QUỲNH ANH: Ðây là chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày do Bùi Bảo Trúc phụ trách. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy, và Quỳnh Anh xin kính chào quí vị.
Chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày đến với quí vị hàng tuần để ôn lại một số điều liên quan đến Anh ngữ mà quí vị gặp trong đời sống. Quí vị có thắc mắc xin liên lạc với Hồn Việt TV nhờ chuyển lại.
LÃM THÚY: Thưa anh tuần này có một thính giả nhờ anh giải thích khi bị hỏi HOW DO YOU DO? thì trả lời như thế nào cho đúng. Thúy cũng gặp trường hợp này một hai lần, bây giờ, sau khi đọc bức thư của vị khán giả này gửi cho chương trình, Thúy cũng thấy không biết những lần Thúy trả lời câu hỏi đó trước đây có đúng hay không nữa.
BÙI BẢO TRÚC( BBT): Trước hết, đây không phải là một câu hỏi. Ðây cũng không phải là câu thăm hỏi về sức khỏe. Có điều câu HOW DO YOU DO? ít nghe thấy ở Mỹ. Câu này thường được dùng khi hai bên được giới thiệu để gặp nhau, quen nhau lần đầu. Một bên nói HOW DO YOU DO? có dấu hỏi (QUESTION MARK ?) ở cuối. Người được hỏi đáp lại HOW DO YOU DO nhưng KHÔNG có QUESTION MARK.
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh thấy thật là kỳ cục. Hỏi và đáp đều là một câu, chỉ khác có cái dấu hỏi (?). Quỳnh Anh thấy là khi viết xuống thì có cái dấu hỏi, nhưng khi nói thì làm sao thấy cái dấu hỏi đó?
BBT: Ðây là cách chào nhau , một cách chào nhau hơi xã giao, kiểu cách một chút, chứ ngày nay, ít người còn ăn nói như thế. Cứ HI!, phía bên kia HI! Lại là được rồi. Trả lời cho câu HOW DO YOU DO? có thể là (I AM) PLEASED TO MEET YOU, hay HELLO, hay HOW DO YOU DO nhưng KHÔNG có dấu hỏi ở cuối. Kỳ cục thật. Hỏi rồi lại đáp bằng chính câu ấy.
LÃM THÚY: Gặp lần thứ nhì, sau khi đã quen, đã biết nhau rồi thì có hỏi HOW DO YOU DO? nữa không thưa anh?
BBT: Không. Câu này chỉ được dùng trong lần đầu tiên khi được giới thiệu mà thôi. Còn khi được hỏi HOW ARE YOU? lúc ấy mới là lúc khai báo đầy đủ bệnh trạng của mình.
Thực ra không cần thành thật khai báo như thế. Chúng ta không ai muốn nghe về bệnh trạng não nề của người khác, nên nếu không đang đứng trong phòng mạch, hay trong Emergency Room thì dù cho có không khỏe mười mươi đi chăng nữa thì cũng cứ nhẹ nhàng I AM OKAY I AM FINE I AM DOING ALRIGHT.
Người Mỹ có câu này tôi nghe cũng đôi ba lần: A BORE IS A PERSON WHEN ASKED “HOW ARE YOU?”, WOULD TELL YOU… nghĩa là người vô duyên là người khi được hỏi HOW ARE YOU? thì người ấy sẽ ngồi xuống đầu đuôi ngọn ngành, đọc luôn cả hồ sơ bệnh lý của mình ra cho người thăm hỏi mình nghe cho điên cái đầu luôn. HOW ARE YOU? là một câu hỏi, là câu thăm hỏi sức khỏe thật đấy nhưng ít người muốn nghe chuyện ốm đau sầu não của người khác bao giờ. Cứ I AM FINE THANKS, AND YOU? hay I AM OKAY. HOW ABOUT YOU ? hay HOA ABOUT YOURSELF? là đủ.
QUỲNH ANH: Anh vừa dùng danh từ A BORE, anh nói thêm về chữ này được không?
BBT: Ðộng từ TO BORE là làm cho ai chán vì những chuyện hay việc làm vô duyên ngớ ngẩn. Thí dụ HE CAN BORE US TO DEATH WITH THE DETAILS OF HIS TRIP TO CHINA nghĩa là ông ta có thể kể liên miên về chuyến đi Trung Quốc của ông đến lúc chúng ta có thể chết về những câu chuyện vô duyên đó.
A BORE là danh từ nghĩa là một người ăn nói vô duyên mà chúng ta rất muốn gặp khi vào giường … đi ngủ. Nghe chàng hay nàng nói chuyện thì chỉ năm phút là xưởng cưa có thể chạy hết tốc lực ngay.
BORING là vô duyên, buồn nản, ngao ngán. A BORING EVENING; A BORING PERSON; A BORING STORY.
LÃM THÚY: Thế trái nghĩa với BORING là gì thưa anh?
BBT: Tôi biết cô định nói gì rồi. Trái nghĩa của BORING là INTERESTING. Chữ này rất khác với INTERESTED. INTERESTING là lý thú, hấp dẫn. INTERESTED là quan tâm, thích, muốn biết về, muốn tìm hiểu về. Tôi cũng đã nghe hai chữ này bị dùng không đúng khá nhiều lần. AN INTERESTING BOOK là một quyển sách hấp dẫn. AN INTERESTING PERSON là một người lý thú, ăn nói duyên dáng. Hai chữ này đều dùng được với động từ TO BE như TO BE INTERESTED và TO BE INTERESTING, và vì thế chúng mới rắc rối. Thí dụ nói I AM INTERESTED IN WINE MAKING là tôi muốn tìm hiểu, muốn biết thêm về, tôi muốn bước vào nghề làm rượu nho. Nhưng không bao giờ nói I AM INTERESTING IN WINE MAKING… Nói I AM INTERESTING chẳng lẽ lại là khoe mình là ngươi hấp dẫn, duyên dáng à Việt Nam hay sao.
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh biết câu “chữ TÁC đánh chữ TỘ, nhử NGỘ đánh chữ QUÁ” để nói về những chữ hay lầm khi học chữ Hán ngày xưa, cũng như “KIÊN trông ra TIỆP” khiến ông Trần Tế Xương văn hay chữ tốt mà vẫn hỏng thi. Nhưng đó là chữ Hán, chỉ cần thiếu hay thừa một nét là thành những chữ khác nhau xa. Trong tiếng Anh có như thế không thưa anh?
BBT: Có chứ. Có khá nhiều trường hợp như thế. Tôi sẽ đưa ra một số trường hợp hay gặp. Một số mà thôi.
LÃM THÚY: Thúy nhớ mấy đứa con Thúy nói với nhau về một người bạn của chúng ở trường. Cậu học sinh này được một đứa mô tả là học hành chăm chỉ HE WORKS HARD. Ðứa kia nói HE HARDLY WORKS. Hình như chúng không đồng ý với nhau có phải không thưa anh?
BBT: Ðúng. HE WORKS HARD là nó học hành chăm chỉ. Nhưng HE HARDLY WORKS thì lại có nghĩa là nó ít khi làm việc lắm. I HARDLY KNOW HIM là tôi không quen biết ông ta bao nhiêu. I CAN HARDLY HEAR YOU là tôi nghe anh khó lắm. I HARDLY UNDERSTAND HER là tôi thấy khó mà hiểu được cô ấy.
QUỲNH ANH: Mấy hôm trước, Quỳnh Anh lại vừa bị con gái bắt lỗi khi nói về chuyến đi Ðài Loan mới đây.Quỳnh Anh nói I HAVE GONE TO TAIWAN thì bị con gái sửa lưng là phải nói I HAVE BEEN TO TAIWAN mới đúng. Quỳnh Anh thấy cả hai câu đều nghĩa là Quỳnh Anh đi Ðài Loan cả thế thì sai là ở đâu?
BBT: Hai câu rất khác nhau. I HAVE BEEN TO TAIWAN là tôi đã đi Ðài Loan. Chuyến đi đã xong. Tôi đã về nhà.
I HAVE GONE TO TAIWAN là tôi đã đi Ðài Loan và chuyến đi chưa chấm dứt, tôi chưa về nhà.
LÃM THÚY: Có hai chữ này Thúy hay lộn hoài, đó là LOOSE và LOSE. Xin anh giảng cho nghe về chúng.
BBT: LOOSE là tĩnh từ có vài ba nghĩa khác nhau. LOOSE là lỏng, không chặt, rời ra, không dính vào nhau. Cái áo rộng là LOOSE. HE LOST A LOT OF WEIGHT là ông ta ốm (gầy) đi khá nhiều . HIS SHIRTS ARE NOW VERY LOOSE là mấy cái áo sơ mi của ông ấy rộng thùng thình. Tiền lẻ, tiền xu, tiền cắc là LOOSE CHANGE.
TO LOOSEN là nới lỏng ra, làm rộng ra. Trái nghĩa là TO TIGHTEN. Thắt lưng buộc bụng là TO TIGHTEN THE BELT.
Trong khi đó, LOSE là động từ TO LOSE là mất. PAST TENSE là LOST. PAST PARTICIPLE là LOST. Thí dụ WE LOST (quá khứ của TO LOSE) EVERYTHING IN APRIL 1975 là chúng tôi đã mất tất cả mọi thứ hồi tháng 4 năm 1975. RECENTLY PEOPLE FOUND MANY LOST (PAST PARTICIPLE được dùng như tĩnh tự) MANUSCRIPTS BY HỒ XUÂN HƯƠNG là mới đây người ta đã tìm được nhiều bản thảo bị thất lạc của Hồ Xuân Hương.
Có hai chữ này có lẽ hai cô cũng nên biết vì chúng rất khác nhau. Ðó là MOST và MOSTLY. Hai cô chắc phải biết dùng tĩnh từ MOST rồi. Quỳnh Anh cho nghe thử một thí dụ với MOST coi.
QUỲNH ANH: MOST nếu là tĩnh từ thì nó đi trước danh từ, có nghĩa là phần lớn, đa số, phần nhiều như khi nói THEY FINISH MOST OF THE CAKE nghĩa là chúng nó ăn gần hết cái bánh.
LÃM THÚY: MOST OF THE BOOK IS ABOUT NHẤT LINH AND TỰ LỰC VĂN ÐOÀN là gần hết cuốn sách là về Nhất Linh và Tự Lực Văn Ðoàn.
BBT: Bây giờ qua trạng từ MOSTLY. Trạng từ này nghĩa là tổng quát, chính yếu, đa phần, thông thường. Thí dụ MUSLIMS ARE MOSTLY GOOD PEOPLE nghĩa là người Hồi Giáo gần hết là những người tốt. Cô Thúy cho nghe một câu với MOSTLY coi.
LÃM THÚY: PEOPLE OF SRI LANKA ARE MOSTLY BUDDHISTS là gần hết dân Sri Lanka (Tích Lan) là những người theo đạo Phật.
QUỲNH ANH: PEOPLE GO TO VATICAN ARE MOSTLY FOR THE MASS WITH THE POPE là hầu hết những người đến Vatican là để dự thánh lễ mi sa với Ðức Giáo Hoàng.
BBT: HAI động từ TO RISE và TO RAISE cũng có thể làm cho người nói tiếng Anh lầm vì chúng đều có nghĩa là đưa lên cao, nhấc lên, tăng lên. Khác nhau là ở chỗ một động từ (TO RAISE) phải có túc từ tức là OBJECT và một động từ (TO RISE) KHÔNG CẦN OBJECT.
Khi nó cần túc từ, nghĩa là nó phải có túc từ đi sau thì thuật ngữ văn phạm gọi nó là THA ÐỘNG TỰ, TRANSITIVE VERB. TO RAISE là nâng lên, nhấc lên, đưa lên một vật gì. Quá khứ là RAISED; Past Participle là RAISED.
Khi nó KHÔNG cần túc từ, nó là TỰ ÐỘNG TỰ, INTRANSITIVE VERB. TO RISE là INTRANSITIVE VERB, là TỰ ÐỘNG TỰ. Past Tense của TO RISE là ROSE và Past Participle là RISEN. Hai cô cho biết khi nói THE SUN ALSO RISES, mặt trời cũng mọc thì TO RISE có cần một túc từ hay không?
QUỲNH ANH: THE SUN ALSO RISES, tên của một tiểu thuyết của Hemingway thì động tự RISES là một TỰ ÐỘNG TỰ. Ðằng sau TO RISE không cần một thúc từ đi theo. TO RISE là đứng lên nhô lên, mọc lên ( dùng với mặt trời, trăng, sao…), thức dậy…
BBT: Thế còn khi tôi nói tôi giơ tay lên (đưa tay lên) thì tiếng Anh nói thế nào, cô Thúy?
LÃM THÚY: I RISE MY HAND… Ðúng không thầy?
BBT: Không đúng vì TO RISE không cần túc tự HAND.
LÃM THÚY: Vậy thì phải nói là I RAISE MY HAND . Ðúng rồi. Nhưng nói I ALWAYS RISE EARLY EVEN DURING THE WEEK-END để nói là tôi luôn luôn dậy sớm ngay cả trong những ngày cuối tuần. Tháng trước, Thúy cho con trai thêm (tăng lương, cho thêm tiền túi, tiền tiêu vặt) 20 đô la mỗi tháng làm anh chàng cám ơn mẹ rối rít THANK YOU FOR THE RAISE, MOM! là cám ơn mẹ tăng “lương” cho con. Bây giờ thì Thúy biết nếu viết xuống, phải là RAISE chứ không phải là RISE nữa. Nhưng thưa anh, THE RAISE là lên lương, tăng tiền túi là danh tự của động tự TO RAISE. Còn TO RISE có danh từ xuất xứ từ động từ TO RISE không?
BBT: Có chứ. Thí dụ THE RISE OF HITLER là sự dấy lên, sự vùng dậy, sự trỗi dậy của Hitler.
Còn một cặp này nữa tôi thấy cần nói hôm nay không thì quên mất. Ðó là USED TO như trong TO BE USED TO và USED TO DO.
TO BE USED TO là quen, để nói về những việc đã trở thành quen thuộc, cho dù đó là việc hay chuyện cũ hay mới. USED TO được dùng như một tĩnh tự (ADJECTIVE) thí dụ khi nói tôi nay đã quen với giọng Mỹ thì Quỳnh Anh nói thế nào bằng tiếng Anh?
QUỲNH ANH: I AM USED TO THE AMERICAN ACCENT.
BBT: Thúy cho nghe một thí dụ với TO BE USED TO hay TO GET USED TO coi. Nhớ dùng một danh từ sau USED TO.
LÃM THÚY: MY CHILDREN ARE NOW USED TO MY NEW SCHEDULE các con của Thúy nay đã quen với thời biểu mới của mẹ.
BBT: USED TO là một động từ để nói tới một việc làm thường diễn ra trong quá khứ nhưng nay thì không còn diễn ra nữa. Nó chỉ có một thì quá khứ (PAST TENSE) mà thôi. Thí dụ I USED TO SMOKE A PACK A DAY nghĩa là hồi xưa tôi hút mỗi ngày một bao thuốc lá. Quỳnh Anh cho nghe một thí dụ dùng USED TO, với một động tự nguyên mẫu (INFINITIVE) coi.
QUỲNH ANH: MY DAUGHTER USED TO ATTEND THE SAME SCHOOL WITH HIM là con gái tôi hồi trước cùng học một trường với cậu ấy.
BBT: Lãm Thúy đặt một câu với USED TO coi.
LÃM THÚY: I USED TO CLOSE THE SHOP AT 7 P.M. BUT NOW I CLOSE AT 6.30 là hồi trước, Thúy đóng cửa tiệm vào lúc 7 giờ nhưng nay, Thúy đóng cửa vào lúc 6 giờ rưỡi.
BBT: Thôi chúng ta qua chuyện khác, những cặp nguy hiểm đầy cạm bẫy của tiếng Anh sẽ trở lại vào một dịp khác. Tôi muốn nhắc hai cô một PHRASAL VERB này: TO LOOK FORWARD TO. Gọi nó là PHRASAL VERB vì nó là một nhóm chữ cấu thành một động từ. Không phải chỉ là TO LOOK, mà là TO LOOK FORWARD TO. Khi dùng nó, tiếp ngay sau phải là một danh tự hay một danh động tự, một GERUND, hay nói cách khác, là VERB+ING. KHÔNG BAO GIỜ là một INFINITIVE. Thí dụ nói I LOOK FORWARD TO SEE YOU là sai. Phải nói là I LOOK FORWARD TO SEEING YOU mới đúng.
Nhưng rất nhiều người phạm phải lỗi này. TO LOOK FORWARD TO nghĩa là mong cho tới ngày, tới khi làm được việc gì đó. Trong thư viết, chúng ta thỉnh thoảng cũng thấy dùng PHRASAL VERB này. Thí dụ nói tôi mong được gặp ông để nói chuyện về công việc. Câu này thường được dùng trong những bức thư xin việc. Cô Lãm Thúy nói thử bằng tiếng Anh coi.
LÃM THÚY: I AM LOOKING FORWARD TO SEEING YOU.
QUỲNH ANH: I AM LOOKING FORWARD TO MEETING YOU hay I AM LOOKING FORWARD TO TALKING (DISCUSSING) WITH YOU ABOUT THE JOB.
QUỲNH ANH: Thưa quí vị, chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày của Hồn Việt Television đến đây xin tạm chấm dứt. Chương trình sẽ trở lại trên màn ảnh Hồn Việt Television trong bài học tới. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh xin kính chào quí vị.
























































































