Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Một số nhân sĩ tại Little Saigon tổ chức ngày tưởng niệm Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ vào trưa Thứ Bảy, 2 Tháng Mười Hai, tại phòng sinh hoạt RNC, thành phố Westminster.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc cao tăng uyên bác từng bị nhà cầm quyền Việt Nam kết án tử hình, đã viên tịch lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, 24 Tháng Mười Một (nhằm ngày 12 Tháng Mười năm Quý Mão), tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, theo Hội Đồng Hoằng Pháp thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).
Theo bản tiểu sử do hội đồng đưa ra: “Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15-2-1943 theo khai sanh (gia đình khai tăng tuổi để thầy đi học), tuổi thật sinh ngày 5 tháng 4 năm 1945 (nhằm ngày 23 tháng 2 năm Ất dậu), tại tỉnh Paksé, Lào.”
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 Dòng Lâm Tế Chánh Tông và đời thứ 10 Thiền Phái Liễu Quán, là Chánh Thư Ký kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Sau một thời gian nằm bệnh viện, ông được đưa về chùa Phật Ấn hôm Thứ Năm.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một học giả uyên bác về Phật Giáo, nguyên giáo sư thực thụ của Đại Học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam, theo trang mạng Quảng Đức.
Ông thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Ông được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật Giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung và tiếng Nhật.

Lúc bị Việt Nam bắt năm 1984, ông và ông Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), được coi là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật Giáo Việt Nam, đang soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Ông quy y Phật lúc 7 tuổi, học Phật pháp trong Viện Hải Đức tại Nha Trang, rồi sau đó là tại Thiền Viện Quảng Hương Già Lam tại Sài Gòn.
Ông tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật Học năm 1964, Viện Đại Học Vạn Hạnh phân khoa Phật học năm 1965, được đặc cách bổ nhiệm là giáo sư thực thụ Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1970 nhờ nhiều công trình nghiên cứu và khảo luận triết học nổi tiếng.
Ông là chủ bút của tạp chí Tư Tưởng do Viện Đại Học Vạn Hạnh phát hành. Ông cũng làm thơ, viết một số truyện ngắn đăng trên tạp chí Khởi Hành (1969-1972), Thời Tập (1973-1975). Ngoài ra ông cũng hiểu biết rất nhiều về triết học Tây phương. Ông là người đầu tiên thuyết trình về Michel Foucault tại Việt Nam.
Sau năm 1975 ông về lại Nha Trang, đến năm 1977 thì vào sống tại Thị Ngạn Am, chùa Già Lam ở Sài Gòn. Đầu năm 1978 ông bị tù ba năm, đến năm 1980 thì được thả.
Ngày 1 Tháng Tư, 1984, ông bị bắt cùng với ông Thích Trí Siêu. Tháng Chín, 1988, ông và ông Thích Trí Siêu bị Việt Nam tuyên án tử hình vì tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Tháng Mười Một, 1988, sau một cuộc vận động quốc tế, bản án giảm xuống còn tù chung thân.

Ngày 1 Tháng Chín, 1998, ông được thả về từ trại Ba Sao-Nam Hà ở miền Bắc Việt Nam. Một năm sau, vì tiếp tục hoạt động cho GHPGVNTN, ông cùng với Hòa Thượng Thích Quảng Độ lại bị đe dọa giam giữ và bị công an triệu tập tra hỏi.
Trong số đồng hương đến dự, Hòa Thượng Thích Minh Mẫn, viện chủ chùa Huệ Quang, Santa Ana, bày tỏ tâm tình của ông về Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ: “Thầy Tuệ Sỹ thân hình nhỏ bé qua áo nhà tu đã bị cảnh trong tù bảy năm, rồi sau đó, ngài phải sống trong bối cảnh hà khắc của chính quyền trong nước. Với sức chịu đựng đó cũng đủ cho ngài là một vị Phật sống. Hôm nay, chúng ta đến đây để cùng thắp sáng ngọn đuốc từ bi của Thầy Thích Tuệ Sỹ, không phải chỉ tán tụng suông, mà chúng ta cần phải noi theo gương ngài là có đủ bi, trí, dũng để chúng ta có thể làm được những điều mà mình có thể làm được.”
Giáo Sư Trần Văn Chi, một nhân sĩ có tiếng tăm tại Little Saigon, chia sẻ: “Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã bất khuất tham dự những sinh hoạt mà trong nhân gian ít có ai có thể làm được. Chính sự bất khuất đó đã làm cho chính quyền Cộng Sản phải thả ngài ra khỏi tù. Điều này chứng tỏ rằng, sức mạnh không phải chỉ có vũ khí và quân đội của nhà cầm quyền, mà tinh thần bất khuất chính là sức mạnh thật sự. Vì thế, khi ngài ra đi thì chính phủ Hoa Kỳ qua tòa đại sứ tại Việt Nam đã có lời chia buồn và tán dương công đức của ngài. Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch không chỉ lưu danh cho dân tộc Việt Nam, mà ngài còn là người của Phật Giáo trên thế giới. Ngài ra đi, dân tộc Việt Nam mất đi một con người bằng thân xác, nhưng ngài đã hóa thân thành vị bồ tát, và đã làm rạng danh cho nền Phật Giáo Việt Nam được trường tồn.”
Tiến Sĩ Cai Văn Khiêm nói: “Đại Sư Tuệ Sỹ đã kết thúc một chặng đường của thuyết luân hồi. Trong chặng đường đó, ngài đã để lại kho tàng trí tuệ gồm những triết lý, tư tưởng sâu xa và những áng thơ văn cùng nhiều mơ ước. Với tấm lòng bồ tát, ngài đã để lại cho nhân gian rất nhiều tình cảm, nhiều hơi ấm và dạy chúng ta sức chịu đựng trong đời sống hiện hữu. Theo tôi, trong thuyết luân hồi, điểm cuối đến Niết Bàn là đến với hoàn toàn giác ngộ.”

Hơn nửa thế kỷ qua, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã tận tụy cống hiến công đức của mình cho nhiều thế hệ tăng, ni trong và ngoài nước về việc giáo dục của Phật học. Ông cũng từng phiên dịch, luận giải và chú thích nhiều kinh, luật và luận thuộc Thanh Văn Tạng và Bồ Tát Tạng.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã khuyến khích và tán trợ việc thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp thuộc GHPGVNTN tại hải ngoại để đẩy mạnh sứ mệnh hoằng dương chánh pháp nơi xứ người. Và ông cũng đã nỗ lực thành lập Hội Đồng Phiên Dịch Tam Tạng Lâm Thời vào cuối năm 2021 để thừa tiếp công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, khởi sự vào Tháng Mười, 1973, cho đến nay vẫn còn dang dở. Đến nay ông đã ra mắt được 29 quyển Thanh Văn Tạng. [qd]
































































































































