Khi Ðồng Minh Tháo Chạy (14)

 


Bán đảo Cam Ranh


 


Hai mươi năm sau khi Nhật rút khỏi Cam Ranh, quân đội Mỹ vào xây cất lên một công trình vĩ đại. Với diện tích 260 cây số vuông (100 square-miles), bán đảo này giống như hình một cái chai, có chiều dài 12 cây số và chiều ngang bảy cây số ở điểm rộng nhất.


Một hệ thống tiếp liệu cỡ lớn gồm các kho nhiên liệu, kho đạn, xưởng đại tu xe tăng, nhà máy điện, khu nhà ở, giải trí được xây cất. Thêm vào là phi cảng quân sự thật lớn. Sân bay có hai đường băng 3.200 mét, phi cơ loại nào đáp xuống cũng được. Hệ thống đường bộ chằng chịt, giao thông rất thuận tiện. Là một bán đảo, hai bên là biển mà lại có hồ chứa nước ngọt lớn, với trữ lượng thường xuyên hàng trăm ngàn mét khối. Ðó là Hồ Ao Hổ rộng 250 mét, dài 1,5 cây số. Vào cuối mùa khô tính ra cũng còn gần 300 triệu ga lông nước. Nhờ mỏ nước ngọt trong lòng đất nên cây cối xanh tươi. Ngoài hồ, còn một số giếng nước do quân đội Mỹ đào, tụ lại thành 10 điểm cung cấp nước ngọt cho 15,000 lính.


 


Hải cảng Cam Ranh


 


Cảng này là một trong ba cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới, đứng sau Sydney (Úc) và hơn Rio de Janeiro (Brazil). Ngoài bốn bến tầu (trong chín bến lúc đầu) còn tốt, còn có nhiều cầu tầu có thể bỏ neo bốc rỡ hàng hóa, và 14 phao nổi được cột xuống chắc chắn.


Khi Mỹ trao lại cho Việt Nam Cộng Hòa vào Tháng Sáu thì bán đảo Cam Ranh là một của quý. Ðã có sẵn một hải cảng lớn, vừa gần biển, vừa cách biển, lại có một hạ tâng cơ sở nằm sát bên để phát triển kỹ nghệ, du lịch, thủy hải sản, đóng tàu, sửa tàu, vận tải thương thuyền hàng hải. Cam Ranh còn có hệ thống ra đa tối tân, hệ thống thông tin liên lạc qua Thái Lan, Phi Luật Tân bằng dây cáp ngầm xuyên biển, hết sức hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế. Bắt ngay lấy cơ hội, phía Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Cơ Quan Viện Trợ Hoa Kỳ USAID tài trợ một nghiên cứu sơ khởi, một dự án tiền khả thi, để biến đổi một phần của Bán Ðảo Cam Ranh, thành một khu công nghiệp.


Theo kết quả nghiên cứu thì Cam Ranh có thể phát triển theo nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu là phát triển một khu công nghiệp khoảng 2,000 mẫu tây gồm khu nhà máy, khu nhà ở, giải trí, khuôn viên bảo tồn thiên nhiên. Cảng thì đã có sẵn. Khu kỹ nghệ có thể cho thuê được ngay gồm 480 mẫu tây mặt bằng, cộng với 85,400 mét vuông nhà xưởng. Vì không phải mất tiền đền bù việc di dân, cũng không phải xây cất hạ tầng cơ sở, nên dự án tiết kiệm được thời giờ và ít tốn kém. Chỉ trong hai năm là xong. Chi phí lại rất thấp: khoảng 10 triệu đôla, trong đó số tiền tương đương bảy triệu là tiền Việt Nam để trả nhân công, chí phí nội địa. Chỉ cần ba triệu đôla trả tiền kỹ sư và vật liệu nhập cảng là đủ. Trong giai đoạn đầu có thể cho phát triển kỹ nghệ nặng. Ðặc biệt là công nghiệp hóa-dầu, amonium, phân urêa, natri cácbônát không nước (soda ash), kỹ nghệ kính để cho các công trình kiến trúc. Tất cả những nhà máy này tốn khoảng 155 triệu đôla để xây dựng và chỉ trong vòng năm năm là có thể bắt đầu hoạt động sản xuất.


Thực ra, không phải đợi tới sau năm năm: đang phát triển giai đoạn đầu là đã có thể làm những bước cho giai đoạn hai, nhắm vào kỹ nghệ nhẹ, chế biến. Khách đầu tư sẽ đổ xô vào “Vùng Vịnh” Việt Nam. Rồi tới những kỹ nghệ nặng hơn nữa như sắt, thép, kỹ nghệ lọc dầu, kết hợp với các dàn khoan dầu ngoài khơi.


Cảng Cam Ranh dần dần sẽ được tận dụng. Từng bước một, công trình nghiên cứu kết luận: “Phát triển cho đúng mức, tiềm năng của cảng Cam Ranh bằng Singapore, nó sẽ là cảng Hồng Kông thứ hai.”


Nhiều nhà kinh tế đã đồng ý rằng Miền Nam hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng hậu tiến, cũng giống như Ðài Loan, Nam Hàn. Và việc phát triển sẽ mất ít thời giờ hơn là các quốc gia kia, một phần vì đã có sẵn những xây cất hạ tầng tương đối đầy đủ. Lại còn thêm của Trời cho. Quan sát tại chỗ, Ðại Sứ Martin đã phát biểu cho ký giả tuần báo U.S. News and World Report (11): “Ðôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách kinh tế hợp lý, một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết tâm mãnh liệt và tha thiết bảo tồn tự do của mình. “Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt Nam, thì chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai trò tác động, để nối kết tất cả những yếu tố này lại với nhau thì có thể có những kết quả thật là xuất sắc.”


Thực vậy, vào thời điểm đó, mục tiêu tiến tới độc lập về kinh tế sau một kế hoạch ngũ niên (1975-1980) là rất có thể đạt được. Bộ Kế Hoạch ước tính là chỉ cần có nguồn tài chính khiêm nhường khoảng 700 triệu đôla một năm để giúp tài trợ cho kế hoạch này là “bung ra” được rồi (take-off). Từ 1980, Miền Nam sẽ không còn phải dựa vào Hoa Kỳ nữa. Như vậy, tổng số của nguồn tài chính này tính ra là 3.5 tỷ đôla (700 triệu cho năm năm), xấp xỉ bằng số tiền người Việt từ nước ngoài đang gửi hằng năm về cho thân nhân ở Việt Nam ngày nay.


 





Kính cáo độc giả Tuần Báo Người Việt San Jose:


Cho tới số báo này, Người Việt San Jose đã chọn đăng xong tất cả 5 chương quan trọng trong quyển sách “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy” của TS Nguyễn Tiến Hưng. Kể từ số báo tới, Tòa Soạn xin mạn phép ngưng trích đăng các chương kế tiếp trong “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy” để mời quý độc giả thân mến theo dõi loạt truyện ngắn thường kỳ của chúng tôi, cũng trên Tuần Báo Người Việt San Jose. Trân trọng kính chào quý độc giả.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT