Nguyễn Ngọc Bích
Trong đời tôi thỉnh thoảng có những gặp gỡ ngẫu nhiên mà tôi hoàn toàn không ngờ vì không thể nào biết trước được. Ðó là trường hợp tôi gặp ông Lech Walesa (đọc Va-oeng-xa), cựu lãnh tụ Công Ðoàn Ðoàn Kết Ba Lan và nguyên tổng thống Ba Lan đầu tiền thời hậu CS ở Hội nghị Nhân quyền ở Krakow tối mồng 6 tháng 12 năm ngoái.
Ðức Hồng Y Turkson (phải) và GS Nguyễn Ngọc Bích.
Sáng hôm nay, 12 tháng 2, 2013, tôi giở báo ra coi thì cả hai tờ Washington Post lẫn Washington Times đều đăng ở trang đầu những vị hồng y mà người ta đang đồn đoán là có thể sẽ được bầu lên làm Giáo Hoàng thay đương kim Giáo Hoàng Biển Ðức XVI (Benedict XVI), người vừa tuyên bố sẽ từ chức vào ngày 28 tháng 2 tới đây.
Tôi ngạc nhiên quá khi thấy trong 6-7 vị mà người ta đang cho là có nhiều cơ may nhất sẽ được bầu vào tháng 3 lên thay Ðức Giáo Hoàng Biển Ðức lại có ngay một vị mà tôi cũng mới gặp ở Krakow, vào sáng Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012, hai hôm sau ngày tôi gặp ông Walesa. Ðó là Ðức Hồng Y Peter Kodwo Appiah Turkson, thường được gọi ngắn trong tiếng Anh là Cardinal Peter Turkson, 64 tuổi. Là một trong những người trẻ nhất trong số các hồng y được phỏng đoán là có thể sẽ được bầu lên làm tân Ðức Giáo Hoàng vào tháng tới, ông gốc người Ghana ở Phi Châu, mới thụ phong linh mục vào năm 1975 và được phong chức Hồng Y mới cách đây 10 năm, vào năm 2003.
Giáo Hội Công Giáo với vấn đề nhân quyền
Sáng hôm đó, tôi dụng ý có mặt ở buổi họp khoáng đại vì có một số đề tài về nhân quyền mà tôi rất quan tâm. Ðó là “sự bảo vệ sinh mạng con người trong giai đoạn còn ở trong bào thai” (“The Protection of Human Life in the Prenatal Phase”) do giáo sư người Ðức Christian Hillgruber trình bày. Sở dĩ tôi muốn dự nghe phần này vì ngay tối hôm trước, GS Hillgruber đã làm thân với tôi rồi hai chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm tối với nhau. Vì ông đã đến Krakow nhiều lần nên ông chọn được một tiệm ăn khá sang và rất ngon ở ngay quảng trường Chợ phiên nằm giữa thành phố.
Ông hỏi tôi về vấn đề phá thai ở VN. Tôi cho ông biết là trước kia, Việt Nam có rất ít phụ nữ phá thai nhưng từ khi Cộng sản vào thì chuyện phá thai, nạo vét như cơm bữa, đến nỗi bà Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, người của Mặt Trận GPMN (tức của Cộng sản trước đây), khi còn sinh thời cũng phải than trời đây là một trong những triệu chứng suy đồi đạo đức rõ ràng nhất của VN dưới thời CS.
Hôm sau, khi đến nghe ông tôi mới được biết là ở Ðức, thai nhi được bảo vệ tính mạng ngay từ khi còn trong bụng mẹ mà qua ngay luật Hiến Pháp. Cũng chính trong buổi khoáng đại này mà tôi được biết về “nanotechnology” (những kỹ thuật siêu vi về y khoa) có thể gây hại cho con người mà chính con người bị bệnh khi được chữa bằng những kỹ thuật này (tỷ như một cái máy hình đưa vào trong cơ thể mình mà chỉ bằng cái đầu tăm hay nhỏ hơn nữa) không biết. Ðây là những loại vấn đề về “bioethics” (“đạo đức sinh học”) đang được dạy trong các trường y khoa mà chúng ta là bậc cha mẹ gần như không có một sự hiểu biết nào cả.
Nhưng cũng sáng hôm đó, tôi rất thích thú khi được nghe buổi trình bày đặc biệt của Ðức Hồng Y Peter Kodwo Appiah Turkson, Chủ tịch Hội Ðồng Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh, đến từ Roma. Ðề tài trình bày của ông hôm đó là “Giáo Hội Công Giáo trong vấn đề bảo vệ nhân quyền” (“The Catholic Church in Human Rights Protection”).
Tôi quan tâm và muốn nghe về đề tài này bởi như ai cũng biết, trong lịch sử của đạo Công Giáo cũng đã có những thời gian mà Giáo hội rất thiếu bao dung nên đã có những tòa án dị giáo (“Inquisition”) từ TK 15 đến TK 17 ở những nước như Ý và Y-Pha-Nho rồi cũng chính Giáo hội đã tuyên án nhà khoa học Galileo (1564-1642) khi ông theo nhà khoa học Tiệp Copernic để khẳng định là trái đất xoay tròn chung quanh Mặt Trời. Rồi lại cũng có những giai đoạn như trong Thế Chiến II khi Giáo Hội Công Giáo yên lặng, không lên tiếng trước những vụ thảm sát kinh hoàng người Do Thái do Ðức Quốc Xã hay ngay gần đây khi nhiều tu sĩ trong Giáo hội bị tố cáo bạo hành tình dục với trẻ em.
Ði vào nghe là để biết một giáo hội với những tì vết như vậy thì họ giải quyết làm sao để vẫn giữ được niềm tin của các con chiên. Tôi do đó rất tò mò và muốn được nghe xem Giáo hội Công Giáo đã có những hành xử như thế nào để ngưng những tệ hại như thế ngay trong lòng giáo hội.
Khi bước lên bục giảng, Hồng Y Turkson cho rằng sự bất bao dung, rất đáng tiếc, vẫn còn hoành hành ở trên thế giới. Chính người Công Giáo ngày nay vẫn còn là đối tượng của sự bất bao dung ở một vài nơi như Ấn Ðộ, Pakistan và Trung Ðông. Vấn đề này chỉ giải quyết được khi ta tin phẩm giá con người là một điều Chúa cho chúng ta và “quyền sống (the right to life) từ khi được tạo ra cho đến khi chết một cách tự nhiên là nhân quyền đầu tiên và trên hết” và mọi quyền khác đều từ đó mà ra.
Ðức hồng y cho rằng ông không biết gì nhiều về bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền bởi khi nó ra đời (1948), ông mới được 2 tháng tuổi. Nhưng đến năm 1963 thì Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã đưa ra giáo lệnh Pacem in terris (“Hòa bình trên thế giới”), theo đó các quyền của con người gồm: quyền sống; quyền thân thể được bất khả xâm phạm, trong đó có mọi quyền về ăn mặc, có chỗ trú thân, được săn sóc y khoa, được nghỉ ngơi và được hưởng những dịch vụ xã hội; những quyền được chữa bệnh, được đền bù khi bị tai nạn ở chỗ làm việc, khi góa bụa, tuổi cao hay khi bắt buộc mất việc, tóm lại không phải tự ý mình; quyền thờ Chúa hay Phật của mình; quyền chọn chỗ đứng của mình trong xã hội; các quyền kinh tế; quyền hội họp và lập hội, lập đảng; quyền di dân và nhập tịch; và các quyền chính trị.
Chính dựa trên những ý tưởng khoáng đạt trên mà chế độ apartheid (chia tách chủng tộc) ở Nam Phi đã phải chấm dứt. Và vào năm 2008, Ðức Giáo Hoàng Biển Ðức XVI đã đến Liên Hiệp Quốc và khẳng định tính phổ quát của các nhân quyền. Giáo hội Công Giáo không chấp nhận là có những nhân quyển riêng biệt cho từng khu vực và đặc biệt chống đối những ý thức hệ tìm cách viết lại định nghĩa của các nhân quyền được cả thế giới công nhận.
Xuất phát từ những nhân quyền phổ quát nói trên, Giáo hội Công Giáo bảo vệ quyền sống từ khi tạo sinh, quyền xây dựng gia đình lành mạnh cho những người con trong gia đình, quyền phát triển trong tự do, quyền có công ăn việc làm, tóm lại quyền có đời sống tâm linh và tôn giáo.
Ở Vatican II, theo Hồng Y Turkson, giáo lệnh Dignitatis humanae (“Về phẩm giá con người”) khẳng định quyền tự do tôn giáo. Và một năm sau, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị của LHQ cũng khẳng định chuyện này trong Ðiều 18 và Ðiều 27. Chính dựa vào những quyền và giáo lệnh trên mà Giáo hội Công Giáo đã cải thiện được tình hình nhân quyền trong giáo hội, như chính Ðức Giáo Hoàng Biển Ðức XVI đã thanh lọc được một số tu sĩ đã có hành vi bạo hành tình dục đối với trẻ em.
Cuộc gặp gỡ hoàn toàn ngẫu nhiên
Nói xong, Hồng Y Turkson đã xuống ngồi một cách rất tự nhiên bên cạnh tôi. Tôi bèn bắt chuyện và xin xem bài viết của ông. Ông bảo: “Tôi chỉ có một bản đem theo thôi nhưng nếu ông muốn thì tôi xin tặng.” Thế là có mỗi mình tôi tại hội nghị có được bài nói chuyện của Ðức Hồng Y Turkson.
Ðến giờ giải lao, chúng tôi vì đang dở câu chuyện nên tiếp tục đi ra ngoài tìm cà phê và nói chuyện tiếp. Câu chuyện một lúc xoay về chức vụ của ông ở Tòa Thánh. Tôi nói: “Chắc ông biết Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, cũng có chức tương tự như của ông?”
“Ồ, tôi biết chứ. Ngài là vị tiền nhiệm của tôi và chính Ngài là người đầu tiên ở trong chức vụ mà tôi đang cáng đáng.”
Và không cả đợi tôi hỏi, ông liền tiếp:
“Chắc ông cũng biết là Tòa Thánh đang muốn phong thánh cho Ngài. Chính chúng tôi đang lo xúc tiến hồ sơ đó. We are working on it.”
-kính gởi các niên trưởng Cố Vấn để kính tường
-kính gởi các chiến hữu trong Ban Chấp Hành để thông báo
-kính gởi chiến hữu Tổng Thư Ký để lưu giữ văn thư






















































































































































