Tâm Việt
Hai ngày 11 và 12 Tháng Sáu vừa qua, Viện Ðại Học Cornell đã tổ chức một cuộc hội thảo thật ý nghĩa, quy tụ 10 diễn giả gốc từ miền Nam Việt Nam và gần 50 giáo sư người Hoa kỳ đang giảng dạy về Việt Nam (và chiến tranh VN) trên khắp nước Mỹ, Canada và Pháp.

Ngày 11-12 tháng 6, 2012 (từ trái qua phải): Nguyễn Ðức Cường, Lữ Lan, Trần Văn Sơn, Trần Quang Minh, Trang Sĩ Tấn, Bùi Diễm, Hoàng Ðức Nhã, Phan Quang Tuệ, Phan Công Tâm, Nguyễn Ngọc Bích, Hồ Văn Kỳ Thoại, Tran Van Sơn.
Những tiếng nói bị lãng quên
Cuộc hội thảo hai ngày mang tên “Voices from the South” (“Những tiếng nói từ miền Nam”) là một nỗ lực của Giáo sư Sử học Keith W. Taylor, khoa trưởng Khoa Á Ðông học tại Cornell, nhằm đem lại một vài sự thực bị lãng quên/xuyên tạc trong mấy chục năm qua. Mở đầu buổi hội thảo vào sáng Thứ Hai, 11 tháng 6, GS Taylor cho rằng những người viết về lịch sử VN và chiến tranh VN trong hàng chục năm qua đã không mấy quan tâm đến những tiếng nói của miền Nam VN, nhất là của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. Thì đây, cuộc hội thảo này sẽ nhằm khỏa lấp được phần nào những thiếu sót của sử học về VN trong hàng chục năm qua. Nếu trong tiếng Anh đã có những sách viết về thời Ðệ nhất Cộng hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thì những sách viết về thời Ðệ Nhị Cộng Hòa (1967 1975) phải nói là rất hiếm, gần như không có.
Vì những lý do trên, cuộc hội thảo đã mời một số nhân chứng cuối cùng của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa để cho họ có thể giúp ta nhìn lại vấn đề một cách chính xác hơn.
Ðược tài trợ bởi một ngân quỹ của sáng hội Einaudi, cuộc hội thảo đã cho các tham dự viên cơ hội nghe một số tiếng nói của những người đã thực sự đóng những vai trò đáng kể trong giai đoạn 10 năm sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa.
Hội luận đầu:
Các ông Bùi Diễm, Hoàng Ðức Nhã và Phan Công Tâm
Mở đầu hai ngày hội thảo, cựu Ðại Sứ Bùi Diễm đã nói đến những khúc mắc trong bang giao Việt Mỹ, gồm nhiều sự hiểu nhầm nhau từ cả hai phía. Nếu Tổng Thống Franklin D. Roosevelt thì muốn trao trả độc lập cho VN thì sự thắng thế của Trung Cộng trên Hoa lục đã làm cho Mỹ, lúc đầu ủng hộ Pháp để ngăn chặn làn sóng CS xuống Ðông Nam Á, về sau ngày càng lún chân thêm vào cuộc chiến mà thực lòng chưa chắc họ đã muốn. Vì thế mà cuối cùng, Mỹ đã phải tìm cách rút chân ra khỏi VN, đưa đến Quốc Hội Mỹ không giữ lời hứa với VNCH, để cho Bắc Việt tràn vào dựa trên một sự yểm trợ dồi dào của Liên Xô và Trung Cộng.
Như để minh họa những khó khăn trong bang giao Mỹ Việt, ông Hoàng Ðức Nhã, cựu tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi, đã mô tả lại những bất đồng giữa ông Kissinger, người được Tổng Thống Nixon giao cho việc thương thuyết hòa bình với Hà Nội, và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, người bị ép quá trong cuộc thương lượng mà giờ đây ông Kissinger cũng phải công nhận là đã bị Lê Ðức Thọ đánh lừa.
Tuy chiến đấu trong những tình cảnh khó khăn như vậy, về mặt tình báo chiến lược, ông Phan Công Tâm cũng cho rằng miền Nam đã có những thành công nhất định mà ngay bây giờ cũng chưa thể tiết lộ hết được. Vì thế nên ông chỉ đưa ra một vài trường hợp mà giờ đây đã được nhiều người biết đến.
Hội luận 2:
Vai trò của quân đội
Sang phần hội luận 2, Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã kể lại trận chiến giữa Hải Quân VNCH và Hải quân Trung Cộng vào tháng 1 năm 1974. Ngay trong khi Mỹ đã quyết định không can thiệp vào chiến tranh VN nữa, ông Thiệu vẫn đã cho lịnh đánh trả Trung Cộng để khẳng định chủ quyền của ta trên quần đảo Hoàng Sa. Chính do vậy mà trận Hoàng sa, tuy thất bại, vẫn là một trang sử đẹp trong lịch sử Hải Quân VN.
Người quân nhân thứ hai tham gia trong hội luận này là Trung Tướng Lữ Lan. Trong một bài trình bày bằng tiếng Anh rất lưu loát và gẫy gọn, ông đã nói về trận Tết Mậu Thân và vùng II Chiến thuật. Sau đó đến lượt ông Trang Sĩ Tấn trình bày vì sao mà cuộc Tổng Công Kích Tổng Nổi Dậy của Cộng quân đã chỉ xảy ra phần Tổng Công Kích mà không có phần Tổng Nổi Dậy, một thất bại lớn của đối phương. Ðó là vì Cảnh sát VNCH đã ngăn chặn được hết cả các nút vận động quần chúng của địch.
Hội luận 3:
Các lãnh vực thông tin tuyên truyền, tư pháp và lập pháp
Sang ngày thứ hai của cuộc hội thảo, tức sáng Thứ Ba, 12 tháng 6, ông Nguyễn Ngọc Bích, một người đã gánh vác nhiều chức vụ về thông tin, từ thời gian còn phục vụ ở Tòa Ðại sứ Washington, đến khi về VN làm trung tâm trưởng Trung Tâm Dân Vụ, rồi cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại, và tổng giám đốc Việt Tấn Xã cuối cùng, đã trưng ra được nhiều những trường hợp phải đương đầu với bọn phản chiến ở Mỹ, với báo chí ngoại quốc ở Sài Gòn (lúc nào cũng có từ 200 đến 300 ký giả ngoại quốc hoạt động ở VN vào những năm cuối cuộc chiến), rồi cả với những quốc gia không thân thiện với ta.
Thẩm Phán Phan Quang Tuệ đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của ông như là một luật gia có lúc làm việc ở Tòa Án Tối Cao của VNCH cũng như có lúc đã ra tranh cử thành công để vào Quốc Hội. Ông cho biết là ngành tư pháp của miền Nam là một ngành được đào luyện tử tế nên có những luật sư, thẩm phán được đào tạo chính quy và ngành Tư pháp của miền Nam đã giữ được tính cách tương đối độc lập của mình, không lệ thuộc vào một đảng phái nào như hệ thống luật pháp hiện hành ở VN. Tóm lại, nền dân chủ thời bấy giờ ở miền Nam, tuy chưa hoàn hảo nhưng vẫn tôn trọng nguyên tắc tam quyền phân lập thực sự để đảm bao dân chủ cho người dân.
Cuối cùng là phần trình bày của cựu Dân Biểu Trần Văn Sơn trong khối Dân chủ Xã hội. Theo ông Sơn thì đối lập là có thật trong Quốc Hội VNCH tuy rằng đối lập lúc bấy giờ chưa đủ mạnh để có thể ảnh hưởng nhiều đến chính sách của nhà nước. Dầu sao, trả lời một câu hỏi từ cử tọa, ông Trần Văn Sơn cho biết ông hoàn toàn tự do trong những phát biểu hay chỉ trích cả chính phủ của ông hay những khối đối lập trong Lập pháp.
Hội luận 4:
Xây dựng xã hội trong một tình cảnh chiến tranh khốc liệt
Phần cuối cùng của hội nghị hai ngày đã dành cho tiếng nói của ông Hoàng Ðức Nhã và hai vị thứ và tổng trưởng cũ của VNCH. Mở đầu, ông Nhã cho rằng người ta dễ quên là ở miền Nam trước năm 1975, vẫn có một xã hội dân sự rất phát triển trong đó người dân và nhiều lực lượng xã hội khác nhau vẫn đem được sức lực của mình vào việc xây đựng một quốc gia tân tiến. Như các tôn giáo lớn có cả một hệ thống trường học trên toàn quốc, như Phật giáo thì có các trường Bồ Ðề, có cả trường đại học như Vạn Hạnh của Phật giáo, hay trường Ðại học Ðà Lạt của bên Công giáo, Ðại học An giang của Hòa Hảo, Ðại Học Cao Ðài ở Tây ninh. Các công tác cứu trợ hay xã hội được nhiều cơ quan tư nhân đảm trách, như các cô nhi viện, các trường khuyết tật, các trường tư trên khắp nước tiếp tay với chính phủ để lo cho người dân.
Chính vì thế mà những phong trào như Hướng Ðạo, Gia đình Phật tử hay Thanh Sinh Công đã đóng góp rất đáng kể vào việc huấn luyện tuổi trẻ, tạo cho họ một tinh thần phục vụ xã hội, và giữ được những nề nếp của một xã hội văn minh, tân tiến.
Ðể cho thấy xã hội miền Nam vẫn thăng tiến không thua gì các nước lân bang, ông Nguyễn Ðức Cường, cựu Tổng trưởng Kinh tế, đã trình bày những nỗ lực của chính quyền kềm lạm phát, phát triển các ngành nghề (như ta đã làm được xe hơi La Dalat), thậm chí tìm được cả dầu hỏa ở gần Côn Sơn. Về mặt tạo cơ hội bình đẳng cho người nông dân, ông Thứ trưởng Trần Quang Minh đã trình bày thật hùng hồn về chương trình “Người Cày Có Ruộng” do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chủ trương và phát động, đem lại được rất nhiều công bằng xã hội, chuẩn bị cho những bước nhảy vọt sau này về sản xuất nông phẩm và ngư nghiệp.
Một cử tọa rất chuyên môn
Vì đa phần những tham dự viên đến nghe hai ngày hội thảo là những giáo sư hiện đang phụ trách giảng dậy về VN nên những câu hỏi hay đóng góp ý kiến của họ xem ra rất có chất lượng, đôi khi làm cho cử tọa giật mình vì sự hiểu biết của họ. Chính vì thế mà sự đánh giá sau hai ngày hội thảo đã được xem là khá cao. Và không ít người ngỏ ý là muốn được thấy những sinh hoạt tương tự trong tương lai gần, để cho những nhân chứng cuối cùng còn có cơ hội chia xẻ với chúng ta những kinh nghiệm sống thật của họ trong một cuộc chiến lớn, cả đối với lịch sử VN và lịch sử Mỹ.

















































































