Thung lũng tử thần (bài 24)

Vũ Ánh

LTG: Hồi đầu năm 2013, cháu nội tôi, Catherine Vũ, 11 tuổi, hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Lúc tôi đi tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần.

Nếu tù cải tạo không sợ bị báo cáo, ăng-ten hết nghề làm ăn!

Sự thay đổi buồng giam, nhất là hoán đổi các xà lim bao giờ cũng tạo cho những tù nhân biệt giam như chúng tôi nhiều phấn khích. Trước hết, ở một hai năm trong một xà lim cá nhân chắc chắn tạo cho chúng tôi sự nhàm chán và ảnh hưởng đến tâm lý không ít thì nhiều tất phải xảy ra, thường được diễn tả bằng nhóm từ nôm na “cuồng cẳng”. Cho nên chúng tôi coi việc chuyển sang ở chung với bạn tù khác trong một xà lim khác là một chuyến du lịch thay đổi không khí. Ở xà lim khác với một người bạn tù mới tất sẽ có hàng ngàn chuyện để nói với nhau. Và đây là thứ vũ khí giết thời giờ rất hữu hiệu. Nhưng đổi lại đời sống, mối liên hệ thường nhật trong khu biệt giam sẽ bị đảo lộn cho tới khi mọi người đều biết rõ và hiểu những “khuôn mặt mới tới”. Gọi là “khuôn mặt mới tới”, nhưng thực ra thì đó là những khuôn mặt cũ đã từng chia sẻ với nhau những gian nan ở các trại tù khác nhau. Họ mới vì trong suốt mấy năm qua tuy chỉ sống cách nhau có một vườn rau cải, nhưng thế giới biệt giam của chúng tôi đã là một thế giời cách biệt hẳn với bên ngoài.

Trong số cả 3 khuôn mặt mới tới, ngoại trừ cựu dân biểu K.T.V., hồi chánh viên Huỳnh Cự, anh L.Q.M. vẫn là những khuôn mặt mà anh em trong biệt giam cũng như trong nhà giam tập thể bên ngoài thường nghi kỵ, dù sự nghi kỵ ấy chẳng dựa trên một bằng chứng nào rõ rệt cả. M. là đội trưởng một đội lao cải từ trại Hàm Tân Z-30C, lại không thân thiện với anh em, thường thực hiện lệnh lạc của cán bộ quản giáo rất khít khao đến mực nghiêm khắc khiến cho anh em không ưa. Tại Hàm Tân, khi linh mục N.V.B. của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam vì thường tổ chức lễ sáng Chủ Nhật cho những bạn đồng tù nào là tín đồ Công Giáo. Mọi người đều đồn là do đội trưởng L.Q.M. báo cáo, nhưng cũng không ai đưa ra được bằng chứng nào chứng tỏ rằng chỉ vì bị L.Q.M. báo cáo mà vị tu sĩ Công Giáo kiên cường của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam. Hơn nữa, vị linh mục này làm lễ công khai vào mỗi sáng Chủ Nhật chứ có che giấu gì đâu và ngài chấp nhận những hình phạt, không bao giờ than van. Khi bị đưa lên Thung Lũng Tử Thần cùng với chúng tôi, L.Q.M. không làm đội trưởng nữa mà lại được cử vào chức vụ Thi Ðua-Thống Kê. Ðiều này lại càng khiến cho anh em xây một bức tường cô lập dày chung quanh anh. Một số tù cải tạo vốn là tín đồ Công Giáo đã gọi L.Q.M. là “tên Juda ghê tởm” cũng chỉ vì những ưu quyền mà anh nhận từ đám cán bộ trại giam. Vào suốt thời gian đó và cho đến bây giờ, tôi vẫn nghĩ rằng do thái độ và hành động của L.Q.M., anh em có thể không kính trọng anh ấy nữa, nhưng nếu bảo anh là ăng-ten hay Juda thì lời lẽ đó quá đáng. Sự ngộ nhận và dư luận trong trại giam hay trại lao cải thường là vu vơ không thể kiểm chứng được. Hoàn cảnh bị đầy đọa và lòng hận thù đã làm cho những tin đồn không tốt về một người nào đó càng đậm nét thêm mà thực ra đó chỉ là chuyện vẽ rắn thêm chân mà thôi.

Khi sang tới hải ngoại, tôi vẫn nghĩ rằng lòng hoài nghi theo sát cuộc sống của một số người tù cải tạo khi họ ra khỏi trại và trong nhiều trường hợp ra tận hải ngoại. Nhưng cá nhân, tôi cho rằng trong bất cứ trường hợp nào khi nghe một lời đồn như vậy, chúng ta cũng nên thận trọng. Ðành rằng, chỉ người tù nào là nạn nhân của một vụ báo cáo thì may ra mới có thể biết hay đoán biết người nào là tác giả của những mật báo này khiến mình bị lôi thôi. Nhưng trong một số trường hợp chính viên cán bộ thẩm cung đã “nửa kín nửa hở” để cho người bị thẩm cung thấy một vài tờ giấy mà hắn ta gọi là bản tố cáo để đánh lừa đối tượng mà mà anh ta cần điều tra mà thôi. Ở một số trại giam, có khi ban quản trại sử dụng một số người làm ăng-ten công khai, mà khi đã làm mật báo viên mà lại để cho người khác thấy hay nghi ngờ thì công tác đó chỉ có mục đích răn đe để ai trong chúng tôi nếu sợ thì sẽ bớt những hành động chống đối đi mà thôi. Cho nên, tôi cho rằng dư luận cáo buộc người tù này hay người tù kia làm tay sai cho Cộng Sản nhiều khi cũng phải xét lại và tốt nhất nếu không có bằng chứng vững chắc hay không được trình bày với bằng chứng vững chắc thì không nên tin.

Trong suốt thời gian tù dài tù đầy, chưa bao giờ tôi đến một trại mới mà không có những anh em đến lưu ý và điểm danh những một danh sách những khuôn mặt mà tôi cần quan tâm, không nên giao du thân mật. Nhưng qua vài chục lần bị thẩm cung tại các trại lao cải, tôi nhận ra một điều chỉ cần bọn cán bộ giáo dục và an ninh trại thấy bất cứ một người tù nào không thư từ liên lạc gì với gia đình và từ chối bất cứ một điều nào mà trại giam coi là ân huệ cho tù cũng đã đủ để đám cai tù thường xuyên “thăm hỏi” mình rồi và qua một thời gian lâu dài, nếu chúng không hiểu thêm được điều gì ở những đối tượng nghi ngờ thì sự đánh giá và quyết định cuối cùng của bọn an ninh trại là cô lập người tù ấy trong biệt giam lâu dài. Như thế cho chắc ăn, chúng nghĩ là bắt lầm còn hơn để sót. Hơn nữa, ý nghĩ thông thường của người tù cải tạo là khi bị gọi thẩm cung trong trại lao cải là phải do ăng ten báo cáo chứ làm sao chuyện của mình đâu có người nào khác biết được “ngoài nó ra”. Cho nên, bọn an ninh trại giam tìm hiểu qua những đội trưởng để biết trong đội lao động anh em tù cải tạo “ghim” người nào hay thù người nào. Xong, bọn chúng liền kêu những tù nhân cải tạo nào bị anh em không ưa ra làm việc. Nhưng sau buổi làm việc, đối tượng này vẫn sống bình thường không bị nhốt biệt giam, lại còn được ưu đãi về thực phẩm. Thế là chỉ ít lâu sau lời đồn bay đi khắp trại. Ði tới trại nào, đội nào, lời đồn lại càng bị thêm thắt, bị bóp méo thêm và đến người cuối cùng nhận tin này, hình ảnh người tù bị ngộ nhận trở thành một bộ mặt gớm ghiếc.

Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Tại sao đa số tù cải tạo lại quan trọng hóa vấn đề mật báo viên tức ăng-ten trong số các bạn đồng tù như vậy? Mật báo viên có báo cáo tội tày trời của chúng ta đi nữa thì bất quá cũng chỉ vô chuồng cọp nằm là hết mức. Vậy thì tại sao không gọi mấy anh ăng-ten lại, đưa giấy bút cho họ và bảo: “Chúng mày viết sao cho bọn tao phải vào nhà kỷ luật thì viết chứ nếu viết báo cáo mà chúng tao không vào được nhà kỷ luật thì chúng mày sẽ ăn đòn và chỉ nó nước mang chăn chiếu ra ngoài trại ngủ thì mới an toàn tính mệnh đấy nhé”. Còn sợ ăng ten báo cáo, còn sợ bị ghi điểm xấu vào hồ, còn sợ vì vi phạm kỷ luật trại giam và sẽ tù lâu hơn người khác tức là còn an tâm tin tưởng vào chính sách cải tạo của nhà nước Cộng Sản. Chính phản ứng tâm lý sợ bị ăng-ten báo cáo đã khuyến khích cho nhân số ăng-ten trong một đội lao cải chỉ có tăng chứ không giảm. Tôi có một câu chuyện khá lý thú về vụ trừ khử ăng-ten:

“Sau năm 1985, chúng tôi lại được tuyển lựa để chuyển về một trại gần Saigon hơn, đó là trại Z-30A mà anh em chúng tôi thường gọi là ‘Ðồi Phượng Vỹ’ vì trại này được thiết lập sát một ngọn đồi mà thời gian trước 30-4-1975 là nơi đặt bộ chỉ huy của Trung Ðoàn 54 thuộc Sư Ðoàn 18. Khi về tới Z-30 A, chúng tôi gặp lại tất cả những sĩ quan cao cấp nhất trong quân lực VNCH từ các trại tù miền Bắc tập trung về đây từ cấp thiếu tá đến đại tá từng giữ những trọng trách trong Quân Lực VNCH, rất nhiều tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng sư đoàn, các lữ đoàn trưởng, các tỉnh trưởng, quận trưởng và một cựu tướng lãnh, đó là Thiếu Tướng Lê Văn Tất (từ lực lượng võ trang Cao Ðài chuyển sang QL/VNCH, các ông tướng khác từ Sơn Tây về được tập trung tại Z-30D). Về hàng ngũ chính phủ VNCH ở trại này bao gồm các chánh sự vụ, trưởng ty, giám đốc, tổng giám đốc, phó quận, phó tỉnh trưởng hành chánh, nội an cho đến các tổng trưởng trong nội các Nguyễn Văn Thiệu (các ông Ngô Khắc Tỉnh, Ngô Khắc Tịnh, Hồ Văn Châm). Thế nhưng, cách nhốt tù ở trại này cũng giống như nhiều trại khác: Cục trại giam vẫn đưa một số tù hình sự vào nhốt chung với chúng tôi với nhiệm vụ làm ăng ten công khai, một trò răn đe mà tôi đã trình bày ở các phần trước. Trong số những tù hình sự này có một tên vốn là cựu du đãng đâm thuê chém mướn ở Saigon trước 30-4-1975, đó là Lâm “Chín ngón”. Tay này là tay anh chị “giết người có máu lạnh”, đã bị ngành an ninh VNCH đưa ra tòa kết án chung thân và đầy ra nhà tù Côn Sơn. Sau 30-4-1975, “cách mạng” đưa anh ta trở lại đất liền và khép vào tội “nợ máu với nhân dân” vì thời gian ở Côn Sơn được các giám thị cho ra làm trật tự tại một khu nhốt tù binh Việt Cộng. Khi tiếp chính quyền Cộng Sản tiếp thu Côn Sơn, một số tù binh Việt Cộng nhận ra Lâm “Chín ngón” nên mới khép anh ta vào tội vừa kể.

Chỉ một tháng sau khi được giải giao đến Z-30A và được biên chế vào một trong những đội lao cải gồm những người vừa được chuyển từ A-20 về, Lâm “Chín ngón” đã giở trò cướp bóc ngay. Hắn bắt đầu lấy “xâu” từ những tùa cải tạo có thăm nuôi nhất là đối với những tù nhân gốc tu sĩ Công Giáo. Lúc nào trong người Lâm “Chín ngón” cũng lận một con dao tự chế bằng thép lấy ra từ khung ba lô. Nhà trưởng cũng như đội trưởng báo cáo cán bộ an ninh rất nhiều lần nhưng đám này lờ đi để Lâm “Chín ngón” tha hồ hoành hành. Thấy một anh du đãng nhúng tay vào máu của nhiều bạn đồng tù thời trước nay lại được nhà tù Cộng Sản biến thành tay anh chị sống đế vương bằng quà thăm nuôi mồ hôi nước mắt của gia đình những tù cải tạo, một số sĩ quan trẻ họp lại bàn nhau phải khử Lâm “Chín ngón” và quyết định đưa ra là đã đánh tên này thì phải đánh cho chết luôn. “Sát thủ” được phân công vẫn là những cựu sĩ quan đã từng đánh trọng thương trật tự Quí “đen” ở A-20.

Hôm đó là vào sáng Chủ Nhật, khoảng sau Tết Nguyên Ðán 1986, các sẽ quan trẻ này dùng cây gỗ then cửa 4 phân vuông làm vũ khí. Lâm chín ngón lúc đó đang sửa soạn bữa ăn trưa tại nhà ăn. Những “sát thủ” canh gác tất cả những đường thoát của Lâm “chín ngón”. Người ra đòn đầu tiên, nếu tôi nhớ không lầm là T.C. Anh đập một gậy vào đầu tên cựu du đãng, máu chảy ướt chiếc áo hắn đang mặc. Lâm “Chín ngón” định rút con dao phía sau lưng thì bị đập tiếp một gậy thứ hai. Tên cựu du đãng này đã lảo đảo gần ngã sấp xuống thì dường như do bản năng hắn vụt nhảy qua cửa sổ. Người bạn tù đứng chặn ở cửa sổ đánh một gây thứ ba nhưng do vội vã anh không đánh trúng đầu mà chỉ trúng vai khiến hắn ngã sấp xuống mặt thềm nhà ăn nhưng vùng dậy ngay được và chạy ra cổng khu nhà giam, chạy qua sân banh xuống nhà bếp trại. Trực trại được báo đã gọi bác sĩ và y tá xuống cấp cứu cho Lâm “Chín ngón”. Sau đó, Linh Mục Ðinh Xuân Hải được anh em đề cử ra gặp trực trại đưa tối hậu thư: “Phải chuyển tên này đi trại khác nếu không chúng tôi sẽ nổi loạn và cuối cùng hắn cũng không thoát chết đâu”. Trực trại quyết định đưa Lâm “Chín ngón” vào dưỡng thương trong nhà kỷ luật khoảng một tuần. Sau đó trại trưởng Thích đã quyết định giải giao Lâm Chín ngón về K-3, tức là trại tù hình sự của tỉnh Long Khánh.

Cách đây khá lâu khi vụ Năm Cam bùng nổ, tôi đọc trên tờ Thanh Niên thấy có một tin ngắn cho biết ngày nay, Lâm “Chín ngón” đã trở thành thân tàn ma dại vì bị chính đàn em của Năm Cam trừng phạt bằng acid vì tội mưu phản đàn anh. Hình chụp trên tờ Thanh Niên cho thấy khuôn mặt Lâm “Chín ngón” đã trở thành dị dạng, hai tay bị co rút và ngồi trên xe lăn. Ðây là hình chụp trước khi Lâm “Chín ngón” vào tù lại vì dính dấp với băng đảng Năm Cam.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT