Thung lũng tử thần (bài 29)



“Phi vụ biệt kích” tiếp tế thuốc B-1 cho người bệnh trong biệt giam!

Vũ Ánh

LTG Hồi đầu năm 2013 cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Lúc tôi đi tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần.


Trước Tết Nguyên Ðán 1985, chúng tôi bị chuyển trại thật, nhưng lần này chỉ phải chuyển đến phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đường mòn, có nghĩa là chúng tôi bị đẩy vào sát chân núi. Trại này không được khang trang như trại ngoài, nhưng theo lời những anh em đã từng ở trại B, “kỷ luật trại ở trong đó tương đối lỏng lẻo” vì viên trại trưởng phân trại chỉ chú ý đến vun quén cá nhân và tư lợi cho gia đình nhiều hơn là công tác. Tuy nhiên, không phải tất cả những anh em tù nhân cải tạo ở bên ngoài khu biệt giam phân trại E đều bị chuyển trại. Trước ngày di chuyển, trại cũng đã có một vụ “lên lớp” chính trị và một ngày được “ăn tươi”. Sau đó một số bị kêu ra làm việc giống như chúng tôi trong biệt giam. (Ghi chú: Lên lớp là từ ngữ được ban quản trại dùng để thay cho học tập chính trị và ăn tươi được các cai tù dùng để chỉ trong ngày lên lớp, các đội lao cải được nghỉ lao động, tắm giặt và mỗi bữa ăn được cấp phát một miếng thịt hay một miếng cá bằng hai đầu ngón tay).

Sáng hôm sau, an ninh phân trại E là Lý “lé” cầm một danh sách lần lượt gọi những người bị chuyển trại ra xếp hàng. Trong biệt giam chúng tôi cũng vậy. Trực trại Luật mở cửa các xà lim đọc tên từng người ngoại trừ Linh Mục Nguyễn Luân. Tôi, Luật Sư T.D.S. và một số anh em ngoài đội lao cải bị lao phổi yếu sức không thể đi bộ thì được cho ngồi xe molotova còn những người khác phải đi bộ. Ðường từ phân trại E vào phân trại B không xa lắm, nhưng đoàn tù nhân chuyển trại lưng ba lô, vai mang túi đựng những thứ lỉnh kỉnh như lon gô để thay cho nồi nấu, bếp “hỏa tốc (Ghi chú: Bếp hỏa tốc đúng ra phải diễn dịch là bếp nấu nhanh vì nấu bằng bếp này nhanh thật. Nhưng thực tế từ ngữ bếp hỏa tốc dùng ở đây để chỉ loại bếp chế tạo từ một lon sắt, nhiên liệu đốt là những bao nhựa đựng thực phẩm. Tù nhân lượm những miếng bao nhựa hay chai nhựa mang về trại rửa sạch, phơi cho khô rồi xếp lại. Khi đốt lửa, những bao nhựa này với tim bằng vải cháy thành ngọn lửa xanh, xông lên mùi khói rất hắc và chắc chắn đó là khói độc rồi. Chất nhựa nylon khi cháy tạo ra một năng lượng có nhiệt độ cao, gô nước nóng hay gô canh tập tàng mau sôi hơn và thời gian tính ra chỉ bằng nửa thời gian nấu bằng củi nên gọi là bếp hỏa tốc), bát đựng thực phẩm, ca đựng nước, muỗng nhựa, chăn mùng, quần áo vá chằng đụp bốc mùi hôi vì phơi không kịp khô, đã phải lếch thếch gần 2 giờ đồng hồ đường mòn mới tới được địa điểm phải tới. Gần 10 năm trời trong chốn lao tù, anh nào người cũng như xác ve, miệng thở dốc. Mấy vệ binh súng dài đi gác tù có lẽ cũng sốt ruột vì tốc độ của rùa này nên miệng luôn luôn thúc giục đoàn tù nhân đi nhanh hơn nhưng không hiệu quả. Trong đoàn, nhiều anh em cũng bực quá trả lời lại: “Sức người cũng có hạn chứ không thể với sức người sỏi đá cũng thành cơm đâu cán bộ ơi.” Bọn tôi được ngồi trên chiếc xe molotova ọp ẹp nhưng cũng phải chạy bằng tốc độ của đoàn tù nhân đi bộ chứ không phải muốn chạy sao thì chạy. Chuyện gì chứ chuyện giải giao tù cải tạo, bọn cán bộ trại giam nào cũng phải “lên kế hoạch” và thi hành theo đúng kế hoạch. Ðã bàn giao số tù nhân thì con số ấy không thể sửa được. Cho nên khi tới nơi, tập họp trước trại mới, các tù nhân phải điểm số ít nhất cũng 4 năm lần vẫn chưa được yên thân.

Di chuyển bằng đường bộ khi chuyển trại mới có thể nhận ra được cách bố trí của lực lượng công an trật tự. Theo ước đoán của một số anh em tù hình sự lao động ở diện rộng (diện rộng= đi lao động tự do, không có vệ binh theo canh gác, chẳng hạn như lấy củi trong rừng, chăn trâu, chăn bò, chèo đò) thì lực lượng bảo vệ trại A-20 có thể lên đến gần 2 tiểu đoàn công an. Hội, một cựu binh thiết giáp của quân đội Cộng Sản Bắc Việt vào tiếp quản Ðà Nẵng và cũng chính tại thành phố này anh ta bị kết án 10 năm tù về tội tham ô được ra làm việc ở diện rộng, giữ chân lái đò để chuyên chở cán bộ cũng như dân chúng quanh vùng và những thân nhân tù nhân đi thăm nuôi con em qua một con suối rộng nước chảy xiết đã cho tôi biết khi anh bị đẩy vào biệt giam số 5 và bị cùm gần 2 tuần lễ: “Em báo cho các anh biết chúng nó đông lắm, đóng chốt vòng trong, vòng ngoài. Anh nói với các anh em là nếu có trốn trại chớ dùng những con đường ra ga La Hai.
Cách tốt nhất và an toàn nhất là phải vượt qua mấy ngọn núi ở sau lưng trại E và trại B. Dĩ nhiên, leo núi thì khó khăn hơn, nhưng nếu cứ chọn con đường mò ra Quốc Lộ 1 là bị bắt ngay thôi. Các anh cần nhớ là cách kiến thiết trại giam lao cải thường dùng cùng một mô hình: trại phải nằm bên cạnh những con suối lớn, chung quanh trại là nhà cửa của gia đình vợ con cán bộ, sau đó là đến xóm dân và vòng ngoài nhất là những khu kinh tế mới và những bản thượng đa phần là sắc dân H’mông rất trung thành với nhà cầm quyền. Hơn nữa, phải nên nhớ rằng trước khi đưa các anh lên A-20, bọn chúng đã mở chiến dịch học tập cho dân chúng Xuân Phước, những xã kinh tế mới ở Hốc Bò và treo giá 40 kí gạo cho những ai bắt được một tù nhân trốn trại. ÐM… dân ở đây nghèo lõ đ… ra, quanh năm khoai sắn nay được 40 kí gạo mừng chết đi rồi còn gì nữa. Năm 1978, một anh ở phân trại B trốn ra Hốc Bò, dân nó bắt trói lại dẫn về trại để lấy 40 kí gạo. Anh này bị đánh chết ngay ở sân biệt giam. Hai tiểu đoàn công an hiện tại đều là lớp công an mới vào ngành nên mới đỡ hơn chứ bọn cũ khát máu lắm vì toàn dân Nghệ An, phần lớn là Quỳnh Lôi. Một vụ khác là một thằng cũng ở diện rộng như em mê một em gái ở huyện Ðồng Xuân, chàng trốn ra ở với nàng được hai ngày thì bị chính ông bố em dẫn vào trại giao nộp để lấy 40 kí gạo. Bọn chúng mang thằng bạn không may của em ra đồng mía bắt chạy về phía trước và chúng dùng súng trường CKC bắn vào sau lưng như bắn bia. Mà cũng kinh thật, nó bị tới 6 phát đạn mới chịu gục xuống.”

Màn đón nhận tù nhân chuyển vào phân trại B cũng giống như bao nhiều vụ đón nhận ở những trại khác: xếp hàng, điểm số, khám tư trang, đọc nội qui trại và Tám (8) điều lệnh nếp sống văn hóa mới (văn hóa mới=đang ở nếp sống văn hóa cũ ảnh hưởng nặng của văn minh Tây phương nay phải bước vào nếp sống văn hóa mới bị ảnh hưởng nặng của thời kỳ ăn lông ở lỗ) và cuối cùng là trại trưởng phân trại B nói chuyện. Nhưng đặc biệt lần này, hầu như trại trưởng và đội ngũ cán bộ phân trại B đều mặc lễ phục lon lá, mũ mãng chỉnh tề. Hơn nữa, viên trại trưởng lại còn “thắng” vào người bộ trang phục đại lễ, huy chương đầy ngực. Trẻ hơn, và nghe nói từng tốt nghiệp trường đại học công an ở Hà Nội và mới tu nghiệp ở Ba Lan về, trại trưởng phân trại B là người không ưa trại trưởng Lê Ðồng Vũ của phân trại E. Theo lời một vài anh em ở phân trại B thuộc nhóm lao cải gồm những người di chuyến tầu Việt Nam Thương Tín về nước thì viên trại trưởng này gọi Lê Ðồng Vũ là người có trình độ tiểu học và nhờ thần thế cho nên từ hạ sĩ công an mà leo đến đến cấp bậc trung tá chỉ trong vòng hơn mười năm. Chẳng hiểu, các anh em này lấy nguồn tin ở đâu mà biết “lý lịch trích ngang” của viên trại trưởng phân trại B thuộc trại A-20 Xuân Phước kỹ như vậy. (Rất tiếc vì câu chuyện này xảy ra cách đây hơn ba thập niên rồi nên không còn nhớ tên viên trại trưởng phân trại B). Nhưng thực tế trước mắt chúng tôi vào lúc ấy là phân trại B không khang trang bằng phân trại E. Các nhà giam ở đây phần đông đều là nhà tranh, vách đất bên ngoài có tráng xi măng, chỉ có hội trường được xây bằng gạch lợp ngói nằm ở chính giữa và các nhà giam được thiết kế hai bên cánh hội trường, không vườn rau cải hay ao cá và không có những hàng dừa. Trải qua nhiều trại tù trước khi bị đày lên Xuân Phước, chúng tôi đã chiêm nghiệm được một điều: trại không khang trang có nghĩa là “tính địa ngục” ở đó nhẹ hơn.

Sau màn khám tư trang trong đó một vài vật được mô tả là bén nhọn bị tịch thu, các bạn đồng tù với tôi đều được biên chế thành 3 đội, nhưng tất cả những người thuộc dân số biệt giam phân trại E đều bị ngồi lại hội trường chờ lệnh mới. Tôi hiểu số phận của mình và quay sang nói với T.D.S. đang ngồi dựa lưng vào tường gà gật: “Chuẩn bị vào biệt giam lại đấy”. Chỉ một lát sau, một trung sĩ công an vào hội trường kêu tôi đi làm việc. Lần này, nơi làm việc lại chính là phòng treo tấm bảng lớn “Nhà Văn Hóa” dựng ngay một vườn hoa gần hội trường. Gọi là nhà văn hóa cho sang, nhưng bên trong chỉ để một bức tượng bán thân của ông Hồ, hai cái bàn trên vất lỏng chỏng mấy tờ Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, tạp chí Cộng sản, trên tường là những hình ảnh “Ðại Thắng Mùa Xuân”. Một chiếc bàn nhỏ để ngay giữa phòng với hai cái ghế. Buổi làm việc không có gì căng thẳng và cũng vắn tắt trong hỏi và đáp. Viên hạ sĩ quan công an này tự giới thiệu tên mình là Dương, cán bộ an ninh trại. Anh ta còn rất trẻ, chừng khoảng 24, 25 tuổi là cùng. Dương nói với tôi: “Các anh bị ông Vũ gởi nên trại phải thi hành đề xuất này đưa các anh vào lại biệt giam ít lâu.” Nhưng cũng phải tới 5 giờ chiều, chúng tôi gồm T.D.S., tôi và 2 người khác bên có án chính trị mới được đưa vào khu biệt giam của phân trại B, nằm ở góc bên phải của phân trại. Khu này cũng có tất cả 10 phòng nhưng xây cất dựa lưng vào nhau, nghĩa là 5 phòng quay mặt vào trong trại và 5 phòng quay mặt ra ngoài một vòng đai cách bìa rừng bằng những mảnh vườn trồng rau cải và khoai lang. Bức tường xung quanh khu biệt giam cao chỉ khoảng 3 thước phía trên có kéo những hàng dây kẽm gai. Các xà lim trong khu biệt giam chỉ xây bằng gạch thẻ dầy, mái lợp ngói thay vì bê tông cốt sắt như ở phân trại E, trước sau đều có một khoảng sân rộng nhưng không trồng cây. Thiết trí bên trong mỗi xà lim khác hẳn ngoài phân trại E. Xà lim rộng hơn, có hai bệ nằm cũng rộng hơn, mỗi xà lim có một cửa thông hơi ngay dưới chân cùm. Hệ thống cùm cũng không khác ngoài phân trại E, nhưng trong các vòng cùm có vòng số nhỏ hơn vòng cùm nhỏ nhất là số 14. Nghĩa là nếu chân ai mang vừa vòng cùm 14 thì khi bọn an ninh lấy vòng cùm 12 để thay vào thì chúng phải dùng búa để đóng xuống. Trung tá N.K.T. cũng là một nhà văn thuộc thế hệ sau cùng của Tự Lực Văn Ðoàn và là cựu chánh văn phòng cho Tướng Hoàng Xuân Lãm cựu Tư Lệnh Quân Ðoàn I đã bị đóng hai vòng cùm 12 vào chân khiến cho da của hai cổ chân ông bị trầy, bị nhiễm trùng và làm mủ nhưng may mắn ông không bị hoại thư. Ông N.K.T. bị đẩy vào biệt giam khoảng hơn 2 tuần lễ vì bị báo cáo hay “nói tiếng nước ngoài” và “chống cuốc” (nói tiếng nước ngoài=nói hay viết tiếng Anh. Trung tá T. hay làm thơ và ngâm thơ tiếng Anh, khi ra bãi lao động ông không chịu làm, chỉ đứng chống cuốc nói về thơ và lịch sử của Tự Lực Văn Ðoàn).

Cái khác biệt nổi bật nhất trong biệt giam phân trại B là chiếc thùng cầu. Nó to gần gấp hai thùng cầu tại các xà lim phân trại E. Nhưng chỉ khi nước tiểu và phân gần đầy thùng, trật tự mới xin cán bộ cho chúng tôi mang ra đổ ngoài cái hố đào ngay trong khu đất này. Khi nước tiểu và phân đầy thùng thì chiếc thùng trở nên rất nặng so với cơ thể mà bắp thịt đã teo đi từ lâu như tôi hay T.D.S. Thực phẩm ở biệt giam B vẫn chỉ là những lát khoai mì khô luộc, nhưng không bị chan nước muối mặn chát, tiêu chuẩn nước là một ca đầy cho mỗi bữa ăn. Tôi chỉ bị cùm chân phải với vòng cùm 16 nên lỏng le. Với cá nhân tôi vốn là người tù quen thuộc đời sống của chuồng cọp hơn là đời sống của các đội lao cải trong các nhà tù cộng sản, tình trạng biệt giam ở phân trại B không đến nỗi quá “căng” như ngoài phân trại E.

Tuy nhiên, khi còn ở biệt giam phân trại E điều kiện vệ sinh tệ hại như vậy, tôi chưa bao giờ bị tiêu chảy hay kiết lỵ. Nhưng mới chuyển về biệt giam B chưa được một tháng, người tôi tự nhiên “mập” hơn, nước da bóng hơn, nhìn vào cổ cổ chân đã không còn còn thấy mắt cá xương, bấm vào thì da lún xuống cả nửa phút sau mới trở lại bình thường. Như thế là tôi đã bị phù thũng và bệnh có vẻ đã nặng. Tôi nhớ lại hồi đầu thập niên 1980 khi chưa bị biệt giam đã có lần Bác Sĩ Lộc, một bạn đồng tù bị án tới 20 năm vì tội tổ chức một vụ nổi dậy ở Ban Mê Thuột năm 1978 đã nói với tôi về bệnh phù thũng trong tù. Theo anh, phù thũng là một chứng mà hầu như người tù nào ít nhiều cũng vướng phải. Nhưng khi da ống chân đã bóng lên như thoa dầu, bấm vào lún xuống cả phút sau mới trở lại bình thường nghĩa là bệnh nặng rồi, thận đã bắt đầu không làm việc. Cốt lõi chữa trị là phải để tống nước bị giữ trong người ra bằng vitamin B-1. Lấy đâu ra B-1 trong hoàn cảnh cùng quẫn này? Cuối cùng tôi chấp nhận và lờ đi cái chết đang tới gần. Chân tôi nhất là đầu gối và mắt cá chân ngày một sưng to lên như chân voi.

Nhưng may mắn đã đến với tôi như một phép lạ. Một hôm, người mang cơm cho biệt giam là một trong số ít những bạn đồng tù trong nhóm Việt Nam Thương Tín vẫn còn trong trại giam nhân lúc trực trại bỏ ra ngoài đã hỏi tôi: “Anh cần gì không. Ng. đen nhắn”. Tôi nói ngay “Thuốc B-1”. Tôi vẫn còn nhớ là hôm nhắn tin là vào giữa tuần lễ thì buổi trưa Chủ Nhật tôi nhận được hơn chục viên B-1 và cả thuốc kiết lỵ. Không phải do người đưa cơm mang vô mà là do chính Ng. đen cùng P.Ð.N. trong nhóm hợp đoàn tổ chức leo qua tường kẽm gai nhảy vào để tiếp tế thuốc B-1 cho tôi. “Phi vụ” diễn ra nhanh, gọn như xi nê và chỉ kéo dài trong vòng 5 phút nhân lúc tên vệ binh súng dài bỏ chòi gác đi vào trại để giao ca.

(Còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT