Vũ Ánh
LTG – Hồi đầu năm cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Lúc tôi đi tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần.
Năm (5) lát khoai mì = 2 muỗng cà phê cơm
Nửa lóng tay nước uống = hai muỗng “canh đại dương”
Tôi vào phòng biệt giam số 5 buổi sáng thì Trần Danh San bị dẫn vào “chuồng” số 3 tức là xà lim 3 tức là cách tôi một xà lim về phía tay trái nếu nhìn từ cửa vào. Trần Danh San, một luật sư trẻ vào thập niên 1960, rất nổi tiếng ở Saigon lẫn miền Trung Việt Nam. Anh là người vào ngày 23 tháng 4, 1977 đã cùng người bạn là Luật Sư Triệu Bá Thiệp đã soạn thảo “Ban Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” và bản tuyên bố “Vì Sao Chúng Tôi Chiến Ðấu” và mang ra đọc tại công trường Hòa Bình trước Vương Cung Thánh Ðường Saigon, nơi vào thời gian đó các ký giả ngoại quốc được phép hoạt động tại Việt Nam thường lui tới Sở Bưu Ðiện để gởi tin tức về nước họ. Anh cùng một số người khác bị bắt, bị đánh đập và bị tra tấn suốt trong thời gian thẩm cung, rồi sau đó bị đày lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước.
Trần Danh San là một trong những sinh viên trường Ðại học Luật Khoa Saigon nổi tiếng là hùng biện và là thần tượng cho lớp sinh viên mới bước vào trường luật như chúng tôi vào đầu thập niên 1960. San nổi tiếng rất mau trong những vụ án liên quan đến chính trị hay tội đại hình. Những bạn bè của anh từ khi còn học trung học ở những trường Pháp và sau này cũng theo đuổi nghề luật như anh cho biết, dù là một tay chơi trong đời sống tư, nhưng khi đã nhận bênh vực cho thân chủ nào anh làm việc hết mình bất kể công sức anh bỏ ra bao nhiêu. Sự kiện Trần Danh San bị đưa vào xà lim kiên giam không làm tôi ngạc nhiên, nhưng dù bị cùm cứng hai chân trên bệ nằm, tôi củng cố nhổm người lên để xem có thể nhìn thấy San qua lỗ tò vò ở giữa cánh cửa phòng giam hay không. Tuy nhiên, các cố gắng của tôi thất bại. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng, khi đã bị cùm hai chân thì chỉ có cách nằm ngửa trên bệ ngủ là cái cùm chân ít gây đau đớn cho tôi hơn. Mỗi lần ngồi dậy, tôi phải cố gắng như người tập bụng và những lần như thế hai vòng cùm ở hai cổ chân siết chặt vào da rất đau đớn.
Như mọi người đều biết rằng tại những phòng tập thể dục, người lực sĩ nằm thẳng người trên sàn rồi nhờ một người khác cầm hai chân kìm cứng lại, hai tay của lực sĩ co lại nâng gáy lên và lấy kết sức mình nhấc phần thân thể từ bụng trở lên. Họ làm những động tác này để làm nổi những bắp thịt bụng. Người tù cải tạo ở khu xà lim A-20 Xuân Phước hai chân bị cùm vào thanh sắt trên bệ nằm khi đã nằm ngửa trên bệ nếu muốn ngồi dậy cũng phải làm như thế, nhưng tất nhiên không còn thịt còn mỡ đâu mà phải tập. Do thiếu ăn đã năm sáu năm rồi nên tôi rất gầy yếu, phải cố gắng hai ba lần mới ngồi dậy được, nhưng da ở cổ chân thường xuyên bị trầy xước. Chúng tôi tránh nhiễm độc bằng cách đổ nước muối vào những vết trầy.
Bên ngoài sân khu biệt giam có tiếng của trật tự Của: “Tại sao các anh cứng đầu quá vậy. Trước đây các anh có cả triệu quân mà chưa làm gì được huống chi bây giờ. Chỉ cần các anh bước ra cái xã Xuân Phước này là dân nó đập chết các anh ngay.” San giọng bình thản nhưng đầy diễu cợt: “Thế ạ, nhưng sao tôi thấy từ cán bộ trại trưởng đến cán bộ Lý rồi xuống tới anh nói giống nhau quá. Phải nhìn nhận là các anh thuộc bài lắm. Bữa nào anh trình cán bộ cho tụi này ra ngoài xã mua con gà luộc ăn chơi rồi dân nó có đánh chết cũng cam lòng.” Tiếng Của: “Thôi, đừng có bố láo nữa, tao lại cho một trận bây giờ.” Vừa lúc đó tôi nghe tiếng của trực trại Luật: “Của, mở số 3.” Có tiếng khóa lách cách và có tiếng kéo sợi dây xích ở khóa cửa bên ngoài buồng giam. Tiếng Của hỏi trực trại Luật: “Cùm nó vòng cùm số mấy cán bộ?” Luật giọng gắt gỏng: “Anh làm trật tự hay tôi làm trật tự. Làm sao khóa hai chân nó lại thì làm. Nhanh lên.” Dường như trật tự Của chọn vòng cùm 16 vì sau đó tôi nghe tiếng búa đóng, điều này chứng tỏ cổ chân San lớn hơn vòng cùm nhỏ nhất là 16. Như thế là đau đớn lắm, nhưng tôi không nghe một tiếng kêu la nào của San. Rồi lại có tiếng trực trại Luật ra lệnh cho Của: “Lên trên đội lấy hết tư trang xuống cho chúng nó.”
Chừng khoảng 10 phút sau, Của đi xuống. Tiếng trật tự Luật ra lệnh: “Khám kỹ vào, ngoài quần áo chăn mền, còn tịch thu tất.” Việc khám xét tư trang kéo dài khoảng 15 phút và Của theo lệnh của trực trại Luật mở cửa phòng giam đưa vào cho tôi chiếc ba lộ đựng quần áo. Nhìn chiếc ba lô, tôi nhận ra ngay chiếc ba lô của tôi, nhưng phần bên trong thì không. Như thế vào buổi sáng Hải “bầu” đã “dọn dẹp” tất cả nên tôi yên tâm là tài liệu đã được di chuyển an toàn đến nơi cất giấu.
Trong ba lô chỉ có một cái mền bằng len do Trung Quốc dệt và hai bộ đồ trận vá chằm đụp bằng những miếng vải bao cát, một ca nhựa để đựng nước uống, một cái muỗng nhựa và một tô đựng thực phẩm cũng bằng nhựa đã nứt và được hàn lại bằng một miếng nhựa khác. Cái muỗng, cái tô và cái ca này đã theo chân tôi từ thời gian tôi bị bắt và nằm biệt giam ở nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa ngày 16 tháng 8, 1975. Nó theo chân tôi về đến biệt giam khu ED, rồi ra đến trại Hàm Tân Z-30C. Khi ra tới Hàm Tân, trong một buổi tù ca đêm Giao Thừa Tết 1978, nổi hứng tôi dùng cái tô nhựa của mình làm trống khiến nó nứt toác ra. Việc kiếm để xin anh em một cái tô khác không phải dễ dàng và cũng không muốn phiền ai nên tôi dùng một cộng kẽm mạnh may chỗ nứt toác ra rồi kiếm một miếng nhựa bể khác để hàn đè lên. Do tôi không được khéo tay, nên vết hàn trông thật thảm hại. Nhưng trong tù nào ai cần bày biện làm gì, miễn sao có cái đựng là tốt rồi!
(Ghi chú: Ðầu tiên nhiều cựu sĩ quan khi đi trình diện đã mang theo trong ba lô của mình nào là gà-mên bằng sắt không bị rỉ trên cán gà-mên còn khắc chữ US. Cả những chiếc bi-đông nước cũng vậy, có cả bao ngoài in chữ US bằng sơn đen.
Nhiều người còn mang theo cả cái ca đa năng cũng bằng sắt không rỉ. Nhưng chính vì chữ U.S. (United States) này mà những vật dụng bình thường này trở thành mục tiêu tịch thu của những cán bộ công an trại giam. Lý do chỉ vì họ rất khoái những loại quân trang này của Hoa Kỳ và rất thích lấy lý do nội qui không cho sử dụng vật bén nhọn , vật dụng làm bằng nhôm, sắt, thép nên phải tịch thu. Trại “đền” lại bằng cách cấp phát cho mỗi tù cải tạo một bộ gồm ba thứ hoàn toàn bằng nhựa: tô đựng cơm, ca đựng nước và muỗng để múc. Giai đoạn sau này khi được thăm gặp gia đình, một số tù cải tạo nhắn người thân mang lên cho họ những hàng bằng nhựa tốt hơn và đẹp hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn như thế.
Ðã đi tù khổ sai, ăn đói, làm việc nặng, quần áo vá chằm vá đụp thì sá gì một cái tô hay muỗng bằng nhựa, không vạ gì mà phải làm đẹp thêm cho một chế độ lao tù coi con người không hơn một con vật như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo giữ những vật dụng bằng nhựa này cho tới khi ra khỏi cánh cổng nhà tù dù đã phải hàn những chỗ nứt bằng những cách dùng một bao bì bằng nylong hơ vào ngọn lửa cho chảy ra thành một chất nhựa dẻo rồi nhỏ xuống những vết nứt. Một số anh em tù cải tạo ý thức cao hơn cũng muốn mang theo những trang phục và những vật dụng từng dùng hàng ngày trong tù về làm kỷ niệm khi họ nhận được giấy ra trại, nhưng hầu hết không ai mang ra được. Lý do dễ hiểu là trước khi cầm trong tay cái giấy xuất trại để ra khỏi cổng nhà tù, tư trang của họ vẫn bị khám xét, khám còn kỹ hơn lúc còn ở trong trại. Tất cả quần áo, vật dụng dùng trong tù phải bỏ lại hết và không người nào được mặc quần áo rách hay vá khi ra cổng trại. Tại những trại mà tôi trải qua, những người được thả không phải được kêu tên để nhận giấy ra trại về ngay đâu. Họ bị tập trung vào một khu nhà khác bên ngoài trại tù để khai lý lịch và nghe giảng chính trị. Sau đó người nào không có một bộ quần áo nào lành lặn thì được cấp một bộ đồ tù mới may bằng vải thô xám. Thành thử khi ra khỏi trại, người tù cải tạo nào cũng ăn mặc tươm tất. Chỉ có nước da xanh mét và thân thể như cái xác ve của người tù cải tạo là có khả năng cáo chế độ lao tù khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản mà thôi)
Những bạn nào đã từng vô nằm “chuồng cọp” ở các trại tù cải tạo tất thắc mắc: đi cùm trong nhà kỷ luật cùng lắm là một hai tháng, trại cần gì phải đưa tư trang cá nhân của tù vào làm gì? Quí vị thắc mắc cũng phải thôi vì đây cũng là thắc mắc của chính tôi lúc đầu. Nhưng chỉ 10 phút sau khi cửa phòng biệt giam số 5 đóng lại, tôi hiểu ra ngay số phận của mình.
Tôi sẽ không có ngày ra khỏi phòng biệt giam này trừ phi bỏ thân nơi đây hay có một đột biến nào về chính trị ở bên ngoài trại giam. Những tiên đoán của tôi được kiểm chứng bằng thời gian gần 5 năm liên tiếp trong những cái hộp bé tí bị cô lập hẳn với thế giới bên ngoài trước khi tôi được chuyển về một trại bình thường và ở gần Saigon hơn, đó là trại Z-30A ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, nơi trước đây đặt bộ chỉ huy của Trung Ðoàn 54 Bộ Binh/VNCH.
Ngay buổi chiều hôm đó, khi vẫn còn loay hoang chưa biết làm cách nào liên lạc với Trần Danh San ở xà lim số 3 thì đã tới giờ lãnh khẩu phần cho bữa ăn tối. Trật tự Của là người chia thực phẩm cho các xà lim dưới sự giám sát của trực trại Luật. Tôi và San là những người cuối cùng trong khu biệt giam được chia thực phẩm. Của vào phòng lấy tô nhựa và ca đựng nước của tôi ra ngoài chia khẩu phần ngay trên bậc thềm của xà lim. Tôi thấy anh ta đếm đủ 5 lát khoai mì khô luộc và chan vào đó hai muỗng lớn nước muối. Sau đó dùng cái ca đựng nước của tôi thọc vào trong thùng nước uống múc ra khẩu phần nước uống mà khi cửa biệt giam vừa đóng lại thôi dùng ngón tay để đo mực nước trong ca. Tôi thấy chiều sâu khoảng nửa lóng tay. Rất nhanh, tôi cầm ngay lấy tô khoai, một tay chận khoai mì một tay nghiêng cái tô để lọc hết nước muối xuống thùng nước tiểu nằm trên một lối đi hẹp giữa hai bệ nằm, trước khi nước muối thấm đẫm vào khoai.
(Còn tiếp)










