Vẫn là chuyện Trung Quốc và biển Ðông

 

Song Chi/Người Việt

 

Ngay sau khi Quốc Hội Việt Nam thông qua Luật Biển vào ngày 21 tháng 6, Trung Quốc lập tức phản ứng mạnh mẽ: Huy động báo chí truyền thông lên án, đòi Việt Nam sửa ngay điều luật mà Trung Quốc gọi là “sai trái,” triệu tập đại sứ VN ở Bắc Kinh đến để mắng vốn…

Ông Ðỗ Văn Hậu, tổng giám đốc PetroVietnam trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm 27 tháng 6 đưa ra bằng chứng Trung Quốc gọi thầu khai thác dầu trái phép trên biển Ðông. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)

Tiếp theo, là hàng loạt động thái khiêu khích: Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam với phạm vi quản lý bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Bộ Quốc Phòng Trung Quốc tuyên bố “tăng cường hoạt động quân sự” ở vùng biển Ðông mà nước này gọi là Nam Hải, đồng thời đang xem xét để đặt cơ quan quân sự tại thành phố Tam Sa mới được thành lập.

Ngày 23 tháng 6, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương của Trung Quốc đã loan báo mời nước ngoài đấu thầu 9 lô dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam.

Tất cả những việc làm này đều vi phạm ngang ngược đến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Nhiều nhà chuyên môn nhận định, đây là sự trả đũa Luật Biển Việt Nam và việc Việt Nam điều máy bay tiêm kích ra tuần tiễu ở Trường Sa hồi giữa tháng 6. Riêng việc mời thầu, là định nắn gân tinh thần vì Trung Quốc thừa biết hiếm có công ty nào dám mạo hiểm đấu thầu trong vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam như vậy.

Tuy nhiên, sâu xa bên trong là việc tiếp tục khẳng định “đường lưỡi bò” không có cơ sở lịch sử lẫn pháp lý, là những mắt xích nằm trong chiến lược lâu dài biến không thành có, biến biển Ðông thành ao nhà mà nhiều người đã phân tích. Và sự nguy hiểm chính là ở chỗ đó.

Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam định tiếng phản đối, gọi đây là “hành động phi pháp” – ngôn ngữ nặng nề về mặt ngoại giao. Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc hủy kế hoạch thành lập thành phố Tam Sa và một số những hành động khác làm căng thẳng thêm tình hình ở biển Ðông.

Trong lúc hai bên đấu khẩu qua lại thì trên mạng, cộng đồng blogger đã lan truyền lời kêu gọi từ trang facebook Nhật Ký Yêu Nước về việc tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc tại Hà Nội, Sài Gòn vào ngày 1 tháng 7 năm 2012.

Cũng chính diễn đàn này đã đưa ra lời kêu gọi tương tự vào Chủ Nhật, ngày 5 tháng 6 năm 2011, mở đầu cho những cuộc biểu tình liên tiếp trong mùa Hè năm ngoái.

Chợt nhớ lại những cuộc biểu tình đầu tiên nổ ra tại Sài Gòn, Hà Nội vào tháng 12, 2007, cũng bắt đầu từ việc phản đối Trung Quốc tuyên bố lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa của cộng đồng blogger.

Lúc đầu chỉ có học sinh, sinh viên tham gia, sau đó thêm giới trí thức, văn nghệ sĩ, tập trung trước và xung quanh khu vực Ðại Sứ Quán Trung Quốc ở Hà Nội và Lãnh Sự Quán Trung Quốc ở TP.HCM. Kéo dài suốt mấy tuần lễ vào các ngày Chủ Nhật, trước khi bị đàn áp nặng nề và buộc phải chấm dứt.

Ðây là lần đầu tiên có những hoạt động như vậy nổ ra trong xã hội Việt Nam từ sau năm 1975.

Trước sự phản đối của người dân Việt Nam, Trung Quốc đã phải gác lại ý tưởng thành lập thành phố Tam Sa mà bây giờ họ lại tiếp tục thực hiện cho bằng được.

Ðứng về phía nhà cầm quyền Việt Nam, hai chữ Hoàng Sa lúc đó còn là “điều cấm kỵ,” Hà Nội còn hết sức e dè với mọi biểu hiện “tụ tập của đám đông” cũng như mọi sự đụng chạm với Trung Quốc. Chính vì vậy, những người đi đầu trong các cuộc biểu tình đã phải trả giá đắt. Một số sinh viên bị đuổi học, nhiều người bị mất việc, bị gây áp lực đủ điều trong đời sống…

Và đáng nói nhất, các blogger của nhóm CLBNBTD như Ðiếu Cày, Anh Ba SG, Công Lý và Sự Thật… đã lần lượt theo nhau vào tù, cho đến giờ này vẫn chưa được công khai xét xử.

Mới đó mà đã gần 5 năm trôi qua.

Trong khoảng thời gian đó, những chủ đề “nhạy cảm” như trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 và sự hy sinh của những người lính hải quân VNCN, hay công hàm của cố thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Phạm Văn Ðồng… đã dần dần được công khai hóa.

Thậm chí, để vô hiệu hóa bản công hàm của ông Phạm Văn Ðồng, nhà nước Việt Nam hiện nay đã bắt buộc phải thừa nhận sự tồn tại về chủ quyền của nước VNCH đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa trước năm 1975.

Và bây giờ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đã chính thức được nêu ra trong Luật Biển.

Dù vẫn bạc nhược, dù nội bộ vẫn bị chia rẽ giữa các phe thân Trung Quốc và phe muốn thoát khỏi mối quan hệ bất xứng với Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam cũng đã “ngộ” ra nhiều điều. Một mặt, tích cực đưa vấn đề biển Ðông ra các hội thảo, hội nghị ASEAN và quốc tế, thi hành chính sách đa phương hóa trong ngoại giao, chủ động thiết lập mối quan hệ nồng ấm hơn với Mỹ… Mặt khác, lẳng lặng chuẩn bị về quốc phòng, mua vũ khí, tàu ngầm…

Những bước đi đó tuy tích cực nhưng vẫn là quá chậm nếu so với những gì phía Trung Quốc đã và đang làm trong âm mưu lâu dài thôn tính biển Ðông.

Về phía người dân, lòng yêu nước và ý thức về mối hiểm họa bành trướng Trung Quốc đã được đánh thức. Nhưng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc này có được tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển hay không còn tùy thuộc vào cách xử sự của nhà nước đối với nhân dân và đối với Trung Quốc.

Nhìn sang Trung Quốc, cũng khoảng thời gian qua, họ đã kịp làm rất nhiều thứ, tiến hành cùng một lúc các hoạt động toàn diện trên mọi mặt trận. Về quân sự, tăng cường sức mạnh, đặc biệt là hải quân, tăng cường sự hiện diện trên biển Ðông. Về ngoại giao, tích cực tuyên truyền với bên ngoài về “đường lưỡi bò” và chủ quyền của Trung Quốc. Thi hành các biện pháp dọa nạt, o ép, nắn gân, gây chia rẽ… khác nhau đối với từng nước láng giềng có tranh chấp với Trung Quốc, trong khi tìm cách mua chuộc các nước khác không có tranh chấp… Kích động tinh thần dân tộc để có hậu thuẫn là nhân dân Trung Quốc…

Ðối với các đảo, quần đảo đánh chiếm được của Việt Nam thì Trung Quốc cho xây tàu bay, xây căn cứ quân sự, mở các tuyến du lịch… và nhiều hoạt động khác. Tất cả nhằm mọi cách để đặt Việt Nam và các nước xung quanh trước “sự đã rồi.”

Mặc khác, nhằm làm cho Việt Nam luôn luôn suy yếu và phụ thuộc nặng nề, Trung Quốc đã lũng đoạn, phá hoại nền kinh tế Việt Nam đủ kiểu. Trung Quốc cũng đã kịp cài cắm người khắp nơi ở VN, trên rừng dưới biển, trong các công trường xây dựng, khai thác khoáng sản…, lập cả làng ở Hải Phòng, đóng bè nuôi cá ở vịnh Cam Ranh ngay vị trí nhạy cảm…

Trong khi đó, nhà cầm quyền Việt Nam trong suốt thời gian qua, vẫn chưa thực sự tạo được niềm tin với thế giới và nhân dân khi đối đầu với hiểm họa thường trực và lâu dài từ phía Trung Quốc.

Với quốc tế, Việt Nam chưa thật sự tiến hành những cải cách về nhân quyền, chính trị để có được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của các nước. Với người dân, không khoan sức dân, giải phóng nội lực của nhân dân bằng cách trả lại những quyền tự do dân chủ, quyền con người căn bản…

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của người Việt Nam là một vốn quý nhưng nhà cầm quyền thay vì tạo điều kiện phát huy thì lại ngăn chặn, đàn áp khiến tinh thần người dân trở nên nguội lạnh, càng có lợi cho những kẻ có âm mưu bành trướng.

Tuy nhiên, qua hàng loạt sự kiện, mặc dù luôn luôn tỏ ra hung hăng, hiếu chiến, kể cả trong cuộc đối đầu căng thẳng với Philippines vừa qua, có vẻ như hiện tại Trung Quốc cũng chưa thật sự sẵn sàng cho các cuộc chiến tranh. Dù với các nước láng giềng nhỏ yếu. Nếu có, cũng chỉ là những cuộc chiến chớp nhoáng nhằm cướp một vài đảo như đã làm với Việt Nam năm 1988.

Trung Quốc thừa biết nếu nổ ra chiến tranh bây giờ vì những tham vọng vô lý trên biển Ðông, cả thế giới không ai đứng về phía họ mà họ lại chưa đủ mạnh đến mức bất chấp cả thế giới.

Hiện tại, có vẻ như Trung Quốc chỉ muốn o ép để buộc các nước láng giềng phải gác tranh chấp, cùng khai thác ở những vùng biển lẽ ra thuộc về các nước này. Và nếu nước nào yếu bóng vía chấp nhận lùi bước, nhân nhượng thì Trung Quốc sẽ lấn tới và hậu quả sẽ vô cùng tai hại cho bây giờ và cho cả tương lai đất nước đó sau này.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT