Cải cách ở Myanmar và ảnh hưởng đến Việt Nam


Hồ sơ


 


 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


Trong một bài viết trên trang mạng của tạp chí Foreign Policy ngày 17 tháng 4, 2012, với tựa đề “The Terrible Tiger”, tác giả Dustin Roasa, cho rằng cải cách chính trị đã đem lại cho Myanmar một bộ mặt mới trước nhãn quan của thế giới, và ngày nay Việt Nam còn lại là một nước đàn áp chính trị nhất ở Ðông Nam Á.


Ông dẫn lời của Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Học Viện Quân Sự Australia, “Nếu Myanmar đã cải thiện nhân quyền và được tưởng thưởng, Việt Nam cũng sẽ cần đạt tới chuẩn mực ấy”.


Foreign Policy ra đời năm 1970, thoạt đầu là một tạp chí nghiên cứu xuất bản mỗi tam cá nguyệt, tới thập niên 1990 đổi thành 2 tháng một số như hiện nay. Năm 2008 công ty nhật báo Washington Post mua lại Foreign Policy từ nhóm chuyên gia nghiên cứu quan hệ đối ngoại quốc tế Carnegie Endowment for International Peace và có thêm website thảo luận cập nhật thời sự hơn.


Dustin Roasa nhắc lại rằng sau bốn thập niên chiến tranh kết thúc, Việt Nam được coi là một mẫu mực thành công, một “con cọp” về phát triển ở Châu Á, nhưng về chính trị và nhân quyền thì là một “con cọp kinh hoàng”. Trong lúc chế độ Myanmar đã mở rộng tự do thì Việt Nam vẫn tiếp tục trấn áp đối lập. Từ tháng 1 năm 2012 khi hội đồng quân sự cầm quyền ở Myanmar đại xá phóng thích hàng trăm tù nhân chính trị, thì tại Việt Nam cơ quan an ninh đã bắt giữ ít nhất 15 nhân vật đối kháng và kết án tù 11 người khác. Myanmar bắt đầu cấp thông hành cho phóng viên ngoại quốc và nới lỏng sự kềm chế báo chí trong nước nhưng Việt Nam vẫn kiểm soát chặt chẽ các ký giả trong và ngoài nước, ngăn chặn Facebook và nhiều websites “nhạy cảm” khác. Tổ chức “Ký Giả Không Biên Giới” (Reporters Without Borders), trong danh mục Tự do Báo Chí năm 2011-2012, xếp Việt Nam hạng 172 trên 179 nước.


Phil Roberson, phó giám đốc phân bộ Á Châu của Human Rights Watch, nhận xét: “Việt Nam đang bắt đầu nhận ra rằng bằng việc đàn áp các quyền căn bản của con người, họ đã dấy lên những sự so sánh với Myanmar để thể hiện là một chế độ tệ hại nhất về vi phạm nhân quyền trong khối ASEAN”.


Sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị đất nước bằng bàn tay sắt, nhưng qua nhiều năm cô lập thời kỳ Chiến Tranh Lạnh và thiếu những tổ chức đối lập quốc nội đã khiến thế giới không mấy quan tâm đến thành tích nhân quyền ở đây. Khi nhà cầm quyền thi hành đường lối đổi mới kinh tế năm 1986, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo khó nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới $100 đã phát triển nhanh đạt tới $1,300 cuối năm 2010. Sự chú ý của thế giới do đó tập trung vào phép lạ kinh tế và Việt Nam có vẻ như đi vào đúng con đường khai phóng hậu Chiến Tranh Lạnh mà nhiều nước cộng hòa Xô Viết cũ đã chọn. Hình ảnh của quốc gia này qua nhãn quan của hàng triệu du khách và những nhà đầu tư đến đây làm ăn vì thế đã không bị thương tổn vì những hạn chế tự do ngôn luận và tự do hội họp vốn vẫn là thực tế hàng ngày ở xã hội Việt Nam.


Theo Dustin Roasa, mặc dầu với bình diện khai phóng này, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam về mặt chính trị vẫn là bảo thủ như từ thời kỳ sau khi thống nhất đất nước. Cầm đầu bởi một nhóm nhỏ các giới chức như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang, bộ phận lãnh đạo vẫn mạnh mẽ đàn áp Khối 8406, phong trào dân chủ quốc nội dựa theo mẫu mực Charter 77 ở Tiệp Khắc. Hình thành năm 2006, nhóm này đã thu hút hàng ngàn ủng hộ viên trước khi bị nhà cầm quyền chặt đầu bằng cách bắt giữ và bỏ tù hàng chục nhà tổ chức. Những giới lãnh đạo tôn giáo, bao gồm tăng ni Phật Giáo và linh mục Công Giáo có chủ trương đòi hỏi mở rộng quyền tự do tín ngưỡng cũng là mục tiêu bị trấn áp. Ngoài ra trong mấy năm gần đây một số những người có tinh thần quốc gia công khai kêu gọi chống lại Trung Quốc cũng bị ngăn chặn hay bắt giữ. Tuy vậy vấn đề phong trào dân chủ ở Việt Nam không được dư luận quốc tế quan tâm như ở Myanmar, Tây Tạng, Trung Quốc.


Giới lãnh đạo Việt Nam càng ngày càng quan tâm đến ý đồ bành trướng của Trung Quốc ở khu vực và đã tìm cách thảo luận với Washington về sự gia tăng hợp tác quân sự. Ðây tất nhiên là cơ hội để Hoa Kỳ có thể gia tăng áp lực với Hà Nội về tình trạng nhân quyền. “Một số hệ thống vũ khí mà Việt Nam muốn mua hay nhận của Hoa Kỳ và chúng ta có thể chuyển giao cho họ. Nhưng sẽ không có như vậy chừng nào họ cải thiện thành tích nhân quyền”, theo lời Thượng Nghị Sĩ Joe Lieberman sau chuyến đi thăm Hà Nội vào tháng 1 cùng với Thượng Nghị Sĩ John McCain.


Michael Auslin trong bài viết trong tạp chí trên mạng The Diplomat ở Tokyo, Nhật Bản, cho rằng niềm lo ngại đối với Trung Quốc là chia sẻ chung giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhưng mặc dầu yếu tố chiến lược ấy, trở ngại lớn nhất giữa hai bên là vấn đề chính trị. Từ lâu hai chính quyền vẫn khác biệt quan niệm về nhân quyền, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và đảng Cộng Sản Việt Nam không tỏ bày ý hướng nào là muốn nới lỏng sự nắm giữ quyền lực. Theo Auslin, quan điểm của các giới chức Hoa Kỳ là nên tiến bước chậm chạp trong chuyện này, vì Việt Nam buộc phải lo ngại nếu xích lại quá gần Hoa Kỳ sẽ làm tổn hại đến những quan hệ vừa thân cận vừa phức tạp với Trung Quốc, đồng thời họ cũng có thể dễ dàng biến thành vật bị hy sinh trong mối bang giao Hoa Kỳ-Trung Quốc.


Theo Dustin Roasa, trường hợp Myanmar không thể nào có sự tin cậy của thế giới nếu không có những cải cách. Hơn nữa bà Aung San Suu Kyi đã từng nhiều lần lên tiếng và được công luận quốc tế ủng hộ mục tiêu chính nghĩa. Việt Nam thiếu những điều kiện thuận lợi ấy. Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân ở Washington, bào đệ của Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, nhà đối lập đã hơn 30 năm bị cầm tù và quản thúc tại gia ở Việt Nam, nói: “Chúng tôi không có nhà lãnh đạo nào đã được giải Nobel Hòa Bình như Ðức Ðạt Lai Lạt Ma hay bà Aung San Suu Kyi, những tiếng nói có tầm ảnh hưởng quốc tế”. Theo lời ông: “Chúng tôi phải rất nỗ lực để thu hút sự quan tâm, mọi người vẫn thường không muốn nghe chúng tôi nói tới Việt Nam vì dư âm cuộc chiến tranh còn đó”. Ông cho biết trong một lần nói chuyện với nhau gần đây, Bác Sĩ Quế tin rằng “Mọi chuyện bây giờ đã thay đổi. Dân chúng không còn sợ hãi như 10 năm trước nữa. giới trẻ ngày càng thêm tham gia và càng bị bắt phong trào dân chủ càng mạnh hơn”.


Tuy nhiên đó mới chỉ là nhận định chủ quan chưa có bằng chứng rõ ràng nào xác nhận về sự kiện cũng như con số. Michael Auslin cho biết dân số 87 triệu của Việt Nam có tuổi trung bình là 27 và trên 60 triệu người trong lứa tuổi 15 đến 65. Hầu hết quan tâm của dân chúng là về tình trạng kinh tế. Các giới chức chính quyền công khai thừa nhận có những khó khăn và một nhóm tư vấn mới đây đưa ra nhận định cần phải có thêm cải tổ kinh tế ở mức vĩ mô, nhưng những đòi hỏi ở cấp độ vi mô vẫn giữ cho nền kinh tế mạnh mẽ và không đưa đến xáo động xã hội.


Theo Doug Bandow trên tạp chí Forbes thì các chế độ độc tài đang sụp đổ hay lung lay ở Trung Ðông nhưng điều ấy chưa có nghĩa là dân chủ tự do đã mở rộng. Cách Mạng Hoa Lài hay Mùa Xuân Ả Rập trong nhiều trường hợp có vẻ tiến triển tới chỗ khác như sự mong mỏi. Hình thức biến chuyển ấy, trong bối cảnh đặc thù của thế giới Hồi Giáo ở vùng Trung Ðông, sẽ không là phổ cập tại mọi nơi.


Còn cuộc cải cách dân chủ tại Myanmar là một chuyển biến có phần đột ngột, theo bình luận của nhiều quan sát viên quốc tế. Tuy nhiên quá trình này không nên coi là bất ngờ, trong tình trạng của Miến Ðiện, nay đổi thành Myanmar, một đất nước nghèo đã trải qua nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài quân phiệt và luôn luôn có những xung đột dân tộc. Ðây là một loạt những cải tổ chính trị, kinh tế và hành chánh thực hiện dưới thời Tổng Thống Thein Sein, được sự ủng hộ của đảng Ðoàn Kết và Phát triển (USDP) do phái quân nhân hỗ trợ.


Hơn nữa, hoàn cảnh địa lý chính trị và kinh tế của Myanmar khác xa với Việt Nam, cho nên nếu cải tổ đưa Myanmar tới một vị trí khác Việt Nam như tác giả Dustin Roasa đã viết, thì cũng chưa phải vì thế có thể coi Myanmar là mô hình mà Việt Nam sẽ noi theo, ít nhất cũng trong một tương lai không gần.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT