Hùng Tâm/Người Việt
Giới Thiệu: Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người Việt”, xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…
Kỳ này, “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ đi vào một lãnh vực chuyên môn có thể là chỉ dấu báo trước nhiều biến động sau này. Ðó là lãnh vực đầu tư tài chánh. Yếu tố tiên báo ở đây là những rủi ro trên thị trường cổ phiếu, với mối nguy sẽ xuất hiện trong những năm tới là nạn lạm phát.
Nội dung trình bày sẽ giản lược đến tối đa để ai cũng có thể hiểu vì ai cũng có thể bị ảnh hưởng ở những gì sẽ xảy ra trên các thị trường tài chánh phức tạp ấy. Xin mở đầu với một số khái niệm căn bản kiểu “kinh tế nhập môn”.
Ðầu tư tài chánh là gì?
Khi có tài sản mà không muốn tiêu thụ ngay, người ta có thể đem đi đầu tư với hy vọng sẽ kiếm lời nhiều hơn sau này, nhưng cũng có thể gặp rủi ro bị lỗ.
Nhà đầu tư đều biết điều ấy và nếu người không hiểu rằng mình có thể bị lỗ thì thà đừng làm. Ðiều tối kỵ là thay vì dùng tiền tiết kiệm thì lại lấy tiền sinh hoạt thường nhật của gia đình đi đầu tư, khi bị lỗ thì cả nhà đều khổ.
Trong việc đầu tư, người ta có loại trực tiếp và loại gián tiếp.
Trực tiếp là khi nhà đầu tư sẽ là nhà sản xuất, trực tiếp quản trị việc đầu tư của mình, như lập nhà máy, nhà hàng hoặc mua một cơ sở sản xuất sẵn có để mở mang kinh doanh. Gián tiếp là khi trao tài sản đầu tư cho người khác khai thác và trả tiền lời cho mình. Cho người bạn vay tiền mở nhà hàng và chờ đợi sẽ được chia tiền lãi là một cách đầu tư gián tiếp.
Các nghiệp vụ đầu tư tài chánh thuộc vào loại đầu tư gián tiếp, là đưa tiền cho người khác kinh doanh. Ðối giá của đồng tiền đó là một tờ văn tự có thể bán lại với giá trị thay đổi cao hay thấp. Khi bán mà được giá cao hơn giá mua vào trước đấy thì mình có lời, ngược lại thì lỗ.
Trong lãnh vực đầu tư tài chánh, phổ biến nhất là đầu tư vào các chứng phiếu hay securities. Chứng phiếu có hai loại, là cổ phiếu hay stock và trái phiếu hay bond (bill là loại bond ngắn hạn).
Loại thứ nhất là cổ phiếu cũng gọi là chứng khoán, là tờ văn tự cho thấy nhà đầu tư là một cổ đông, làm chủ một số cổ phần, tức là góp phần hùn vào một công ty đang hoạt động và được chia lời sau này. Khoản lời đó là cổ tức, dividend, và tùy vào kết quả kinh doanh của công ty. Nếu việc kinh doanh không sinh lời thì nhà đầu tư làm chủ cổ phiếu chẳng được cổ tức mà cổ phiếu còn mất giá, khi bán ra là bị lỗ. Hàng ngày, khi thị trường chứng khoán yết giá trên màn ảnh hay mặt báo thì đấy là giá cổ phiếu.
Quy tắc nằm lòng là khi giá sụt khoảng 7-8% so với giá mua vào thì nên bán, nếu không có khi sẽ bị lỗ nặng hơn. Ít người chịu nghe lời khuyên ấy vì tâm lý tiếc rẻ cay cú nên dễ sạt nghiệp. Một lời khuyên của giới chuyên môn xưa nay là mua vào thì cứ để đó kiếm lời chứ đừng vội bán khi thấy lên giá: Nhắm vào dài hạn hơn đoản kỳ. Hồ sơ này chú ý đến nguyên tắc trường kỳ đó.
Loại thứ hai là trái phiếu, tức là một tờ giấy nợ.
Nhà đầu tư là chủ nợ và khách nợ là người đi vay, có thể là doanh nghiệp, là chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương. Tờ giấy nợ có kỳ hạn từ ngắn đến dài, có thể dài đến 30 năm. Nhà đầu tư là chủ nợ khi trả tiền mặt để nhận về một tờ trái phiếu ghi rõ là đến hạn kỳ thì được trả lại bằng tiền mặt. Nhưng từ nay đến ngày đáo hạn thì được đảm bảo là nhận được tiền lời. Tỷ lệ so sánh tiền lời với vốn thì được gọi là yield, hay phân lời, nó khác với lãi suất là interest rate.
Nếu nhiều nhà đầu tư sẵn tiền cho vay thì người cần vay chỉ trả phân lời thấp mà vẫn có tiền, khi đó trị giá của trái phiếu tăng. Ngược lại, nếu ít người cho vay, khách nợ phải trả lãi cao hơn thì mới vay được và trị giá trái phiếu giảm. Phải nói ra chuyện rắc rối dù là sơ đẳng vì nó giải thích tại sao trị giá trái phiếu (bond price) chuyển dịch ngược với phân lời (bond yield); price lên yield xuống.
Ở đây, xin ghi thêm rằng giao dịch cổ phiếu được thi hành trên thị trường chứng khoán, stock market, còn giao dịch trái phiếu là của thị trường tín dụng, credit market. Sau cùng, có vài khác biệt giữa hai loại đầu tư tài chánh này: 1) cổ phiếu có mức lời bất định vì tùy kết quả kinh doanh, trái phiếu có mức lời cố định đã thỏa thuận trước; 2) trái phiếu có mức lời thường thấp hơn cổ tức; 3) nhưng an toàn hơn vì mức lời định sẵn và được khách nợ ưu tiên thanh toán trước.
Xin hãy tạm ghi nhận như vậy để đi vào vấn đề chính của hồ sơ.
Huyền thoại về cổ phiếu
Từ cả trăm năm nay, nếu không phải lâu hơn, Hoa Kỳ vẫn tin rằng đầu tư vào cổ phiếu là có lời hơn cả. Phép tính nhẩm là trung bình thì mỗi năm đem lại mức lời thuần là 6.6% sau khi giảm trừ ảnh hưởng của lạm phát. Diễn giải cho dễ hiểu, một đồng bạc mà đầu tư vào thị trường chứng khoán năm 1912 thì trăm năm sau, là ngày nay, đã đem lại hơn 500 đồng.
Ðầu tư gián tiếp là trao tiền cho người khác kinh doanh. Khi đưa ra một đồng cho người khác kinh doanh mà chẳng làm gì thêm mình vẫn lãnh được gần 7% thì ai cũng thích. Vì vậy, đầu tư vào cổ phiếu là cách có lợi nhất cho tương lai nên mới có lời khuyên là cần nhìn vào dài hạn, chớ dại dột mua vào bán ra vì mỗi lần như vậy là mất tiền hoa hồng.
Con số màu nhiệm 6.6% này có cơ sở đáng tin vì phù hợp với diễn tiến của chỉ số Standard and Poor’s 500. S&P 500 có tính chất tiêu biểu cho thị trường chứng khoán Hoa Kỳ vì bao gồm 500 doanh nghiệp lớn nhỏ.
Trong cùng giai đoạn trăm năm ấy, kinh tế Hoa Kỳ lên xuống ra sao? Có đà tăng trưởng trung bình là 3.5% một năm. “Ðà tăng trưởng” là số tài sản được sản xuất thêm. Chi tiết ấy khiến chúng ta tò mò: Trong một năm, mọi thành phần kinh tế công hay tư lớn hay nhỏ của Hoa Kỳ đã làm quốc gia giàu thêm được 3.5% một năm, cớ sao có một thành phần lại giàu thêm được 6.6%, là cao hơn trung bình toàn quốc khoảng 3%? Nếu mỗi năm mà thành phần này lại giàu hơn thiên hạ được 3% thì tài sản của họ sẽ nhân đôi sau 24 năm, một thế hệ, và họ đã làm chủ cả nước vì thâu tóm mọi loại tài sản của thiên hạ. Thực tế lại chẳng như vậy.
Trong trăm năm đó (khi kinh tế tăng trung bình là 3.5%), mức lương bổng biến chuyển ra sao? So sánh sự gia tăng của mức lương thật – sau lạm phát – với đà tăng trưởng thật của kinh tế thì lương bổng chiếm một tỷ lệ ngày càng thấp hơn kể từ 40 năm nay. Tức là trong khi giới đầu tư có tiền thì làm giàu nhanh hơn toàn nền kinh tế, thành phần lao động lại được hưởng ít hơn.
Chuyện ấy cũng đúng mà thật ra không lạ vì nếu gánh nặng lương bổng gia tăng quá đáng thì nhà sản xuất sẽ đầu tư ra ngoài, tìm nơi có nhân công rẻ hơn. Dân Cali mất việc thì người Việt hay người Mễ có việc. Các chính trị gia đều nhắm vào đó mà nhấn mạnh đến sự khác biệt và bất công giữa 1% giàu nhất là 99% còn lại và đến tệ nạn xuất cảng việc làm qua xứ khác.
Sự thật nó không đơn giản như thế, mà đấy vẫn chưa là vấn đề. Vấn đề đáng nói là kỳ vọng 6.6% sẽ không còn.
Rủi ro trước mặt
Các nền kinh tế kỹ nghệ hóa của Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật đang đi vào một chuyển biến lớn khi mà đà tăng trưởng cỡ 3.5% đã từng thấy trong cả trăm năm sẽ không còn nữa. Một năm mà tăng được 2% là đáng mừng rồi. Người ta cứ tranh luận về nguyên nhân và đổ trách nhiệm cho ai khác, kể cả ông tổng thống là người thật ra có rất ít ảnh hưởng. Nhưng đấy là sự thể khách quan của kinh tế thị trường trên toàn cầu. Nếu kinh tế hết tăng trưởng ở mức 3.5% thì liệu cổ phiếu có lên giá 6.6% như trong trăm năm qua hay không? Nhiều phần thì sẽ là không.
Sự kiện này rất quan trọng cho hầu hết mọi người trong chúng ta.
Tình trạng một số người (phân nửa dân số Hoa Kỳ chứ không ít) có thể kiếm lời 6.6% nhiều hơn khả năng sinh lời của cả nền kinh tế (3.5%) sẽ không còn nữa. Khi ấy, người ta phải đi làm lâu hơn, trước khi nghĩ đến ngày về hưu. Hoặc phải chấp nhận là tiền lời của đầu tư vào cổ phiếu sẽ phải giảm.
Biến chuyển cực kỳ quan trọng này sẽ xảy ra một cách chậm rãi nên ít được chú ý, vì vậy mới được đề cập trong hồ sơ kỳ này.
Muốn đạt mức tăng trưởng sản xuất cao hơn thì các nền kinh tế kỹ nghệ hóa (có người gọi là “hậu công nghiệp” post industrial) phải cải tiến năng suất, dùng một lượng lao động ít hơn để đạt cùng một sản lượng. Nghĩa là kinh tế sẽ bị thất nghiệp cao hơn nếu lực lượng lao động không được cải tiến để phù hợp với yêu cầu mới của tiến trình sản xuất. Nghề bơm xăng đã hết, các trạm xăng đều cải tiến năng suất bằng máy tự động. Nghề “xuyên phiếu viên” không còn vì hệ thống điện toán vận hành cách khác. Nghề technician assembler cũng thế, vì được xuất cảng ra ngoài…
Trước sự thay đổi lớn lao này, giới hữu trách đều tìm cách đối phó hoặc chống đỡ sau khi các chính trị gia đổ lỗi cho người khác vì nhu cầu tranh cử.
Cách chống đỡ thông thường của chính quyền là tăng chi, dùng tiền ngân sách kích thích kinh tế. Kết quả không thể được như ý mà hậu quả là gây thêm thiếu hụt ngân sách, Nhật, Âu Châu hay Hoa Kỳ đều gặp hiện tượng này. Khi ngân sách bị bội chi, người ta nghĩ đến giải pháp tăng thuế, nhưng tăng thuế mãi thì sẽ cản trở sản xuất, tức là gặp kết quả ngược với mục tiêu kích thích kinh tế.
Một cách chống đỡ khác, lần này là của ngân hàng trung ương, là bơm tiền qua nhiều ngả với hy vọng là gây nên lạm phát.
Ðây là điều kỳ lạ vì xưa nay các ngân hàng trung ương đều ưu tiên can thiệp vào thị trường để ổn định giá cả và chống lạm phát chứ không bao giờ lại tạo ra “kỳ vọng lạm phát”. Lý do giải thích là làm cho thị trường hay dân chúng nói chung sẽ sợ đồng tiền mất giá mà đem ra xài, và khi tiêu xài thì sẽ kích thích sản xuất.
Vì thế, sau Nhật đến Hoa Kỳ và nay là Âu Châu đều đang thi hành chánh sách “lãi suất zero” hay zero interest rate policy (ZIRP).
Lạm phát là sự mất giá của đồng bạc, được đo lường ở chỉ số giá tiêu thụ vào hai thời điểm. Lạm phát là sắc thuế mù quáng và đồng hạng đánh lên đầu mọi người, nhưng càng nghèo thì càng bị thiệt hại nặng hơn. Trong hiện tượng lạm phát khách nợ là người đi vay thường có lợi hơn chủ nợ là người cho vay vì trị giá của tờ giấy nợ bị giảm sút. Khi ấy, người cho vay sẽ phải đòi phân lời cao hơn để khỏi bị thiệt.
Bây giờ đi đến kết luận
Hậu quả của cả một chuỗi biến đổi chậm rãi và tàn khốc này là gì? Là phân lời trái phiếu trong những năm tới, trong mấy chục năm tới, không còn ở mức trung bình khoảng 2.55% như trong trăm năm qua mà có thể lên tới 7-8%. Khi ấy, sự gì sẽ xảy ra trên các thị trường tài chánh?
Nhà đầu tư vào cổ phiếu không còn thấy mức lời 6.6% nữa và nhà đầu tư vào trái phiếu sẽ có phân lời cao hơn.
Những người có tiền đầu tư chẳng dại dột gì mà dồn hết giỏ trứng vào một loại cổ phiếu hay trái phiếu, họ thủ thân bằng một tỷ trọng cổ phiếu có lời cao mà rủi ro lớn song song cùng trái phiếu, có lời thấp mà an toàn hơn. Khi cả nền kinh tế và các thị trường đều đang thay đổi như đã trình bày ở trên, tỷ trọng cổ phiếu/trái phiếu cũng sẽ đổi, với sức nặng sẽ dồn qua trái phiếu.
Trong những năm và những thập niên sắp tới, người ta sẽ thấy lạm phát tái xuất hiện chứ không còn ở mức 1.5-1.8% như trong cả chục năm qua. Lạm phát gây ảo tưởng là mình giàu có hơn nhưng vẫn chỉ là một sắc thuế bất công. Tiền bạc trút vào cổ phiếu sẽ chảy qua trái phiếu và phân lời trái phiếu hay bond yield sẽ là dấu hiệu đáng theo dõi nhất.

































































