Hà Tường Cát
HÀN QUỐC – Ngày 27 tháng 7 sắp tới là ngày kỷ niệm 60 năm hiệp định đình chiến được ký kết tại Bàn Môn Điếm. Cuộc chiến tranh Triều Tiên từ 25-6-1950 đến 27-7-1953 không được coi là đã kết thúc bằng thỏa hiệp đình chiến này và do đó hai miền Nam – Bắc vẫn ở trong tình trạng chiến tranh dù rằng đã qua 60 năm không còn xung đột võ trang lớn và đường ranh giới ở vĩ tuyến 38 độ Bắc vẫn được duy trì nguyên vẹn cho đến nay.
|
|
| Dân chúng Bắc Hàn viếng mộ chiến sĩ trận vong tại nghĩa trang quân đội ở Bình Nhưỡng hôm Thứ Năm. (Hình: AP/Wong Maye-E) |
Nhân dịp kỷ niệm này, hôm Thứ Năm, chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un đến nghĩa trang quân đội ở thủ đô Bình Nhưỡng chủ tọa buổi lễ tưởng niệm. Kim không nói điều gì nhưng những thuộc hạ theo một công thức quen thuộc, không tiếc lời hăm dọa, nguyện chiến đấu đến cùng để đâp tan “đế quốc Mỹ” thành tro bụi. Bắc Hàn vẫn gọi ngày 27 tháng 7 là “Ngày Chiến Thắng”, mặc dầu qua cuộc chiến kéo dài 3 năm, miền Bắc cũng như miền Nam về mặt quân sự cũng như lãnh thổ gần như không bên nào lập nên thành tích quyết định hay đạt được thêm một kết quả gì mới.
Chiến tranh Tiều Tiên là cuộc đụng độ công khai đầu tiên giữa phe Cộng Sản và Thế Giới Tự Do, không lâu sau khi đã là đồng minh đánh bại Quốc Xã Đức, Phát Xít Ý và Đế Quốc Nhật Bản trong Thế Chiến II. Những đồng minh này chia cắt bán đảo Triều Tiên, thuộc địa Nhật từ 1910, thành hai miến Nam – Bắc dọc theo vĩ tuyến 38, Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và Hoa Kỳ chiếm đóng miền Nam.
Sự phân cắt trở thành chính thức hơn khi cuộc tổng tuyển cử không diễn ra như quy định vào năm 1948 đưa đến việc hình thành hai chính quyền đối nghịch, cộng sản và quốc gia. Khi quân đội Liên Xô và Hoa Kỳ lần lượt triệt thoái trong năm 1948-1949, đường ranh giới quân sự trở thành biên giới chính trị của hai quốc gia và những cuộc xung đột võ trang qua lại luôn luôn xảy ra.
Ngày 25 tháng 6 năm 1950, quân đội Bắc Hàn vượt biên giới, xâm lăng miền Nam. Với sự trợ giúp của các cố vấn Liên Xô và trang bị vũ khí vượt xa đối phương, chỉ trong mấy ngày quân Bắc Hàn đã chiếm thủ đô Seoul và đẩy lui những đơn vị quân đội Nam Hàn còn lại cùng dân tị nạn về cực nam bán đảo.
Liên Xô lúc đó ủng hộ Trung Cộng, tẩy chay Liên Hiệp Quốc vì chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã chạy ra giữ đảo Đài Loan nhưng vẫn còn là một thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An. Lợi dụng tình trạng Liên Xô tự ý vắng mặt không sử dụng được quyền phủ quyết, các nước Tây Phương vận động Liên Hiệp Quốc ban hành nghị quyết của Hội Đồng Bảo An cho phép can thiệp bằng quân sự vào Triều Tiên.
Lực lượng Liên Hiệp Quốc với 350,000 quân đội quốc tế từ 20 nước trong đó 88% là binh sĩ Hoa Kỳ, sẽ chiến đấu bên cạnh 600,000 binh sĩ Nam Hàn, chống lại 1.6 triệu quân cộng sản – Bắc Hàn 260,000, Liên Xô 26,000, Trung Cộng 1,350,000.
Trong ba năm, chiến cuộc chuyển từ vận động chiến trong năm đầu với mặt trận luân phiên qua lại vĩ tuyến 38 nhiều lần, lên phía bắc hay xuống phía nam, cho đến khi cuối cùng trở thành trận địa chiến và cầm cự kéo dài thêm hai năm.
Hai tháng đầu sự tham chiến của quân đội Liên Hiệp Quốc không làm thay đổi tình thế, tới tháng 8 quân đội Nam Hàn và Hoa Kỳ phải lui về một khu vực xung quanh cảng Pusan phía đông nam bán đảo và chỉ còn kiểm soát được khoảng 10% lãnh thổ. Nhờ sự yểm trợ của không quân và lực lượng tiếp viện dần dần được đưa đến, quân Liên Hiệp Quốc giữ vững được phòng tuyến Pusan.
Tới tháng 9, tướng tư lệnh Douglas MacArthur mở cuộc phản công, khởi đầu bằng cuộc đổ bộ lên Incheon ở bờ biển phía Tây, chiếm lại Seoul và đến tháng 10 vượt qua biên giới vĩ tuyến 38, chiếm thủ đô Bình Nhưỡng và tiến lên đến gần biên giới Trung Quốc. Trong tháng 11 và 12, chiến trận diễn ra khốc liệt khi quân đội Trung Cộng với nhân số lớn sang tham chiến và tấn công bằng chiến thuật biển người. Quân Liên Hiệp Quốc tháo lui trên tất cả các mặt trận và bị đẩy về phía Nam, qua vĩ tuyến 38; thủ đô Seoul thất thủ lần thứ nhì ngày 4 tháng 1, 1951.
Tướng Matthew Ridgway thay thế chức vụ Tổng Tư Lệnh sau đó đã thành công trong việc lật ngược tình thế, đưa quân đội Liên Hiệp Quốc trở lại thế chủ động chiến trường. Các đợt tấn công của quân đội Trung Cộng bị chặn đứng và giảm đi, quân đội Liên Hiệp lại vượt qua vĩ tuyến 38 lên phía Bắc. Nhưng từ tháng 7 năm 1951 chiến trận đi đến tình trạng cầm cự và cả hai phía không cỏn thực hiện được những mũi tấn công tiến xa nữa.
Các cuộc hòa đàm khởi sự từ ngáy 10 tháng 7 năm 1951 ở Kaesong. Trong hai năm thương thuyết, cũng còn nhiều trận đánh lớn xảy ra nhưng không chiến dịch nào đi tới một kết quả quyết định. Địa điểm hòa đàm sau đó chuyển tới Bàn Môn Điếm ngay trên vĩ tuyến 38 và thỏa hiệp đình chiến được ký kết tại đây ngày 27 tháng 7 năm 1953.
Tháng 4 năm 1975, được cổ vũ bởi sự kiện Bắc Việt đánh bại Việt Nam Cộng Hòa, lãnh đạo Bắc Hàn lúc đó là Kim Il-sung cho rằng có thời cơ để đánh chiếm Nam Hàn. Kim đã qua gặp giới lãnh đạo Trung Quốc nhưng cả Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai đều khước từ trợ giúp quân sự cho Bắc Hàn để mở cuộc chiến tranh Triều Tiên một lần nữa.
Cuộc chiến tranh Triều Tiên hơn nửa thế kỷ trước đã gây thiệt hại nặng nề cho cả hai miền. Tổng số thương vong của tất cả mọi phía nhập lại không thể nào biết được chính xác. Những tài liệu tương đối đáng tin cậy cho biết quân đội Liên Hệp Quốc 180,000 tử trận, 33,000 mất tích, 600,000 bị thương; phía quân đội các nước Cộng Sản 500,000 tử trận, 800,000 bị thương; thường dân Nam Hàn 400,000 chết, 300,000 bị thương và 400,000 bị bắt cóc hay mất tích, Bắc Hàn tổng cộng khoảng 1.5 triệu.
Kinh tế Bắc Hàn hồi phục nhanh chóng sau chiến tranh và cho đến khoảng năm 1975 đã vượt qua nền kinh tế của miền Nam, nhưng từ từ tăng trưởng chậm lại. Chế độ Cộng Sản và chính sách cai trị độc đoán của những nhà lãnh đạo cha truyền con nối họ Kim, chú trọng vào kỹ nghệ quốc phòng đã không làm cho đất nước phát triển. Dân chúng sống trong cảnh nghèo khó và thiếu lương thực. Ngày nay, nền kinh tế Bắc Hàn quá sa sút và hàng năm phải cần nhận thực phẩm viện trợ để cứu đói.
Ngược lại mặc dù Nam Hàn trì trệ về kinh tế trong nhiều thập niên theo sau chiến tranh, nhưng sau đó đã có thể hiện đại hóa và công nghiệp hóa và phát triển mạnh trở thành một cường quốc kỹ nghệ ở châu Á và trên thế giới. Sách Dữ Liệu Thế giới của CIA ước tính tổng sản lượng nội địa GDP của Bắc Hàn là $40 tỷ chỉ bằng 3.34% GDP của Nam Hàn là $1,200 tỷ; thu nhập bình quân đầu người một năm của Bắc Hàn $1,800 bằng 7.35% thu nhập bình quân đầu người/năm của Nam Hàn $24.500.
Từ 2009, Bắc Hàn nhiều lần tuyên bố không tuân thủ hiệp định đình chiến năm 1953 và cảnh báo khả năng đáp trả quân sự nếu Nam Hàn và Hoa Kỳ tấn công. Nhưng thực tế sự đe dọa chiến tranh, dù là bằng lời nói suông, chỉ xuất phát từ Bắc Hàn chứ không phải từ Nam Hàn. Hơn nữa các giới quan sát quốc tế đều không tin là Bắc Hàn ngày nay có khả năng quân sự để thắng trong cuộc chiến, dù rằng quân đội của họ được trang bị đầy đủ nhiều loại vũ khí hiện đại và thêm nữa còn muốn phát triển vũ khí nguyên tử.
Tuy nhiên khó có thể lượng giá đúng mức những ý đồ của giới lãnh đạo Bắc Hàn và quốc gia Cộng Sản nhỏ bé hoàn toàn khép kín này cho đến bây giờ vẫn là mối quan tâm cho sự an ninh và ổn định tại khu vực Đông Bắc Á Châu. (HC)



































































