Vụ án Bradley Manning

 


Hồ Sơ
HÀ TƯỜNG CÁT



Bradley Manning, anh hùng hay kẻ phản bội, là câu hỏi mà dư luận đã đặt ra, và bằng những quan điểm đối chọi sẽ không bao giờ có lời giải đáp cuối cùng. Vả lại anh hùng hay phản bội chỉ là những nguyên mẫu,  không thể khớp với những sự việc có nhiều yếu tố phức tạp.









Những người ủng hộ Bradley  Manning, mặc áo mang chữ ‘truth’ (sự thật), biểu lộ thắng lợi trước tòa quân sự Fort Mead hôm Thứ Ba, khi bà chánh án, Đại Tá Denise Lind, tuyên bố Manning không có tội giúp kẻ thù của nước Mỹ.(Hình: Mark Wilson/Getty Images)


Cũng có thể xem Manning  là một whistleblower (người thổi còi) quan trọng nhất trong thế kỷ, theo định nghĩa whistleblower là người cho công chúng hoặc những người có liên quan trách nhiệm thấy việc sai lầm.

Nhưng  đó có phải là việc sai lầm hay không, và hành động thổi còi ấy là đúng hay sai, nên hay không nên,  tất cả đều không thể có một kết luận đồng thuận.

Tuy nhiên trong mọi trường hợp, chỉ có một điều chắc chắn duy nhất,  cái mà Manning  đã đưa ra là nói lên những sự thật. Các người bênh vực, trong đó có tổ chức Ký Già Không Biên Cương, lập luận rằng hành động thổi còi  của Manning là  thể hiện quyền  tự do thông tin.

Theo Molly Crabapple của tờ The Guardin thì vụ án Manning cũng như nhiều vụ án khác liên quan đến các hackers, là tượng trưng của trật tự thế giới cũ chống với trật tự thế giới mới, và do đó là đề tài tranh cãi sôi nổi trên toàn thế giới.
Nếu phán xét trên căn bản pháp lý đã là điều khó khăn,  thì tìm hiểu về thái độ của cá nhân Manning trong hành động còn phức tạp hơn.

Bradley Edward Manning, 25 tuổi, binh nhất, bị bắt tháng 5 năm 2010 tại Iraq vì tình nghi chuyển hàng trăm ngàn hồ sơ mật của quân đội và bộ ngoại giao Hoa Kỳ cho WikiLeaks công bố trên trang web của tổ chức tự nhận có sứ mạng làm “nguồn tin tình báo công khai của nền dân chủ”.

Manning có một quá trình sóng gió trong gia đình, bố mẹ ly dị năm 13 tuổi và từ bé đã tỏ ra có những ý kiến chống tôn giáo và không bình thường về vấn đề giới tính. Sinh năm 1987 tại Crescent, Oklahoma, tới năm 2001 rời Hoa Kỳ  theo mẹ về quê ở Wales, Anh Quốc, tới 2005 trở lại Hoa Kỳ sống với bố và người mẹ kế ở Oklahoma. Thân hình nhỏ bé và tính tình khác thường, Manning thường là mục tiêu cho bạn bè bắt nạt ở trường.. Sau một thời gian ngắn sống ở Oklahoma, Manning xung đột với bà mẹ kế và được ông bố cho một chiếc xe truck cũ,  lái đi Tulsa rồi Chicago ở mỗi nơi một thời gian trước khi về sống ở nhà người cô có chồng là luật sư tại Potomac, Maryland.

15 tháng ở Maryland là thời gian ổn định nhất của Manning, theo lời Denver Nicks trong cuốn sách của ông.  Tuy nhiên Manning chỉ kiếm được những việc làm tạm bợ, lương thấp, theo học Montgomery College một lục cá nguyệt rồi bỏ vì hỏng thi. Từ khi trở lại Hoa Kỳ, Manning đã công khai sống như một người đồng tính.

Manning tình nguyện nhập ngũ tháng 1 năm 2008, tới tháng 8 được chuyển tới huấn huấn luyện ở Fort Drum, New York, trong Lữ Đoàn 2 tác chiến Sư Đoàn 10 sơn chiến Lục Quân Hoa Kỳ. Tháng 10 năm 2009, đơn vị của Manning được triển khai tới Iraq, đồn trú ở căn cứ tiền phương Hammer gần Baghdad. Ít nhát hai cấp chỉ huy của Manning đã cho rằng không nên đưa Manning tới Iraq vì tinh thần không ổn định của anh ta có thể là rủi ro cho chính anh và những người khác”. Nhưng vì thực trạng thiếu nhân viên phân tích tình báo,  nên ý kiến này không có hiệu lực.

Tháng 11, Manning được thăng cấp binh nhất và trong giai đoạn này, theo nhận định của một cố vấn quân đội, đương sự mang tâm trạng khủng hoảng trầm trọng. Một mặt vì Manning không đồng ý với cuộc chiến tranh đang tham gia, mặt khác vì vấn đề bản chất cá nhân. Manning không che dấu mình là người đồng tính mặc dầu lúc đó chính sách “Đừng hỏi – Đừng nói” vẫn còn áp dụng trong quân ngũ.

Điều kiện làm việc ở Iraq, một ca dài 14-15 giờ ban đêm trong ánh sáng mờ ảo của căn phòng được bảo vệ an ninh, không giúp cho tâm trạng của Manning được cải thiện. Cuối tháng 12, sau khi bị phê bình luôn luôn trễ nải, có lần Manning đã bực tức lật đổ một chiếc bàn trong phòng họp và làm hư hại một máy computer, và từ đó không được tiếp cạn tới những tài liệu quan trọng nữa. Qua Facebook, anh nói là cảm thấy cô đơn và thất vọng.

Các nhân viên điều tra của quân đội nói họ tin đây là thời điểm mà Manning “download” các hồ sơ về chiến tranh Iraq và Afghanistan, khoảng tháng 1 năm 2010. Manning thu những hồ sơ này vào digital storage card” đem về Hoa Kỳ khi được nghỉ phép 2 tuần, trên đường đi có ghé qua Đức. Cũng vào tháng 1 năm 2010, WikiLeaks loan báo họ có được tài liệu mã hóa hình ảnh video về “những cuộc oanh kích không quân của Hoa Kỳ nhắm vào thường dân”.

Cuối năm ấy tờ New York Times cho biết chính quyền Hoa Kỳ đang tìm hiểu xem Julian Assange, nhà sáng lập và chủ biên WikiLeaks đã nhận được tài liệu do Manning tự ý chuyển tới hay đã khuyến khích hoặc giúp đỡ Manning làm việc này, nếu có như vậy Assange có thể bị truy tố tội đồng lõa.

Denver Nicks, tác giả cuốn sách xuất bản năm 2012: “Bradley Manning, WikiLeaks và Tiết Lộ Bí Mật Lớn Nhất trong Lịch Sử Hoa Kỳ” nói rằng không có bằng chứng chắc chắn nào về việc Assange chỉ thị cho Manning.

Những tài liệu, tổng số trên 700,000,  mà WikiLeaks thu nhận được,  bao gồm: các công điện từ tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Reykjavik, Iceland, được Manning gọi là “thử nghiệm”. Sau đó Manning nói với một người bạn là đã cho WikiLeak đoạn băng video cuộc xạ kích lầm của trực thăng Hoa Kỳ ở Iraq tháng 12 năm 2007. Manning cũng cho biết đã tiết lộ 251,287 công điện của bộ ngoại giao Hoa Kỳ, hành động được gọi là “Cablegate” cùng các tài liệu khác về chiến tranh Afghanistan và trại tù binh Guantanamo.

Ngày 25 tháng 7 năm 2010, ba tờ nhật báo The New York Times (Hoa Kỳ), The Guardian (Anh) và Der Spiegel (Đức), cùng hai nhật báo Pháp và Tây Ban Nha, thỏa hiệp với WikiLeaks bắt đầu công bố một số trong 91,731 hồ sơ mật về chiến tranh Afghanistan, sau đó 391,932 hồ sơ quân sự mật về chiến tranh Iraq, tiếp theo đến 251,287 công điện của bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Không rõ chi tiết trong số hơn 700,000 tài liệu này những gì từ Manning và những gì WikiLeaks thu được từ các nguồn khác.

Nhiều giới quan sát và bình luận vẫn thắc mắc với sự kiện vì sao một binh nhất quân đội được phép truy nhập tới những hồ sơ mật này và biện pháp an ninh như thế nào mà đã không ngăn chặn đương sự “download” các tài liệu ấy.

Hôm Thứ Ba, Đại Tá Denise Lind, chánh án tòa quân sự Fort Meade, Maryland, đã phán quyết tha bổng Bradley Manning về tội danh trợ giúp cho địch, tổ chức khủng bố al Qaeda. Đây là tội nặng nhất và án phạt có thể tới tử hình hay tù chung thân.
Tuy nhiên với 20 tội bị kết trong số 22 tội bị truy tố trong đó có những tội vi phạm đạo luật do thám (Espionage Act) án phạt tổng cộng vẫn còn có thể tới 136 năm tù.

Luật sư David Combs bênh vực cho bị can, tuyên bố hôm Thứ Ba: “Chúng tôi chưa đón mừng. Cuối cùng, bản án thế nào mới là điều đáng kể”. Theo dự đoán, giai đoạn luận án này sẽ phải kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần.

Manning sẽ không khai trong giai đoạn này nhưng có thể phải ra trước phiên tòa trong khi nhân chứng trình bày. Các công tố viên nói rằng  họ có thể gọi tới 20 nhân chứng.

Bà chánh án Lind  sẽ tập trung phán xét về động lực trong việc làm của  bị can và tác hại của nó, tuy nhiên theo nhận định của nhiều quan sát viên thì Manning cũng như WikiLeaks không gây nhiều tổn hại đáng kể cho Hoa Kỳ như người ta đã nghĩ lúc ban đầu.

Tối Thứ Ba, những người ủng hộ Manning biểu tình trước tòa Bạch Ốc. Họ tin rằng dù đã thoát tội nặng nhất, Manning cũng vẫn ở tù và nếu không được sự khoan hồng của chính Tổng Thống,  thì anh ta không thể náo được trả tự do.  (HC)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT