Ít đẻ con bèn nuôi gia súc làm bạn
Vào buổi đầu năm, hồ sơ Người Việt xin đặc cách nói về một đề tài khác hơn là bối cảnh của thời sự quốc tế.
Nền văn minh tin học ngày nay khiến chúng ta có đầy đủ thông tin và biết rất nhiều về những gì đang xảy ra mà có khi lại không hiểu tại sao và hậu quả có thể là gì. Do đó, từ nhiều năm nay, hồ sơ Người Việt tự đặt ra yêu cầu là trình bày những sự kiện thuộc về bối cảnh mà có khi bị thời sự lãng quên trong khối lượng tin tức dồn dập hàng ngày, hàng giờ. Mục đích là để nhìn ra những nguyên nhân sâu xa của một biến cố và từ đó có hy vọng dự đoán ra hậu quả, với một lời kết ngắn.
Vào buổi đầu năm dương lịch, chúng ta hãy cùng nhìn vào bối cảnh văn hóa của cuộc sống mới và chú ý đến hiện tượng – xin quý độc giả kiên nhẫn – “không muốn đẻ con hai chân, nuôi con bốn chân để giải khuây.”
Hiếm con vì kinh tế
Giới nghiên cứu về kinh tế và chính trị thường nói đến tầm quan trọng của vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 và nạn Suy Trầm Toàn Cầu sau đó, vào các năm 2008-2009.
Ngược với nhận định thiên lệch của nhiều người mà báo chí của ta cứ thản nhiên phiên dịch lại, hai nguyên nhân chính của biến cố đó xuất phát trước đấy đã lâu. Năm 1978, chính quyền Jimmy Carter ban hành đạo luật Community Reinvestment Act, Tái Đầu Tư Vào Cộng Đồng, với nội dung khuyến khích, thực tế là bắt ép, các ngân hàng cho dân da đen dễ mượn tiền mua nhà. Vì đa số thành phần này không đủ tiêu chuẩn vay mượn nên mới có thủ tục nâng đỡ và loại tín dụng “thứ cấp,” dưới tiêu chuẩn, subprime loans.
Thời Ronald Reagan và George H. Bush, chánh sách này được tạm hoãn nhưng lại phục hoạt với Chính quyền Bill Clinton từ năm 1993.
Sau đó, từ năm 1999 cũng chính quyền Clinton còn thu hồi đạo luật kiểm soát ngân hàng gọi là Glass-Steagall để giải phóng khả năng kinh doanh của hai loại ngân hàng thương mại và đầu tư chập làm một. Song song là vai trò bao thầu của hai doanh nghiệp bán công là Fannie May và Freddie Mac, hai ổ tham nhũng lưu cữu từ nhiều năm. Vì vậy, tình trạng kinh doanh bất cẩn do ý thế làm liều (moral Hazard) đã xảy ra khiến một chu kỳ thăng giáng của thị trường gia cư địa ốc mới đổ bể thành vụ khủng hoảng tài chánh, với hậu quả trầm trọng lan rộng ra mọi nơi.
Khi liếc nhìn vào một góc của bối cảnh, chúng ta thấy được một hậu quả bất ngờ của biến cố. Trong giai đoạn sau đó, từ 2008 trở lại đây, người Mỹ đẻ ít con hơn trước!
Cuối năm 2013, trung tâm Nghiên Cứu Carsey Research của Phân Khoa Carsey School of Public Policy trong đại học New Hampshire có một phúc trình cho thấy sinh suất (tỉ lệ sinh đẻ) tại Hoa Kỳ đã sụt hẳn so với đà gia tăng trung bình của những năm trước. Từ 2008 đến 2013, nước Mỹ “mất” khoảng hai triệu 300 ngàn trẻ sơ sinh; trong năm 2013 thì giảm mất nửa triệu. Mà chiều hướng ấy vẫn tiếp tục. Công trình nghiên cứu của Giáo Sư Xã Hội Học Kenneth M. Johnson cho biết là xã hội chưa phục hồi mức sinh đẻ cũ.
Nếu không bị nạn Suy Trầm Toàn Cầu, nước Mỹ đã có thêm ba triệu 400 ngàn trẻ em trong khoảng thời gian 2008-2015. Nếu sinh suất trung bình của các năm trước 2007 được duy trì, đáng lẽ năm qua nước Mỹ có thêm được bốn triệu trẻ sơ sinh. Đáng chú ý trong phúc trình là số phụ nữ có khả năng sinh sản vào giai đoạn ấy có tăng chứ không giảm. Nguyên nhân tại sao thì ai cũng có thể biết: khi kinh tế sa sút và việc làm khó khăn thì các gia đình đều muốn tránh sinh con.
Hậu quả là gì thì ta nên tìm hiểu thêm: Vì ít con hơn, các hộ gia đình giảm hẳn mức tiêu thụ các sản phẩm cho trẻ em, từ sữa, thực phẩm đến tã lót, áo quần, hay dịch vụ y tế, chăm sóc trẻ em, mẫu giáo, v.v… Kinh tế bị “thất thâu” và thị trường lao động sẽ ít người tham gia hơn kể từ khoảng 2025 trở về sau.
Một kỹ nghệ phồn thịnh
Thật ra, người ta thấy là trong các xã hội “văn minh” tiên tiến từ Âu sang Á, từ Đức qua Nhật chạy về Mỹ, thì các gia đình đều đẻ con ít hơn. Chậm kết hôn và sau khi kết hôn thì chậm và tránh có con.
Nhưng chúng ta nên tìm hiểu thêm, rằng trong cảnh gọi là hiếm muộn đó, người Mỹ tìm niềm vui ở đâu? Họ trút tình cảm cho một loại sinh vật khác. Không có con, họ nuôi chó mèo làm bạn, và tốn khá bộn!
Người Mỹ gọi loại gia súc thân yêu họ nuôi trong nhà như bầu bạn con cái là PET, chúng ta chưa có một từ thích hợp để phiên dịch.
Trong giai đoạn “hậu khủng hoảng” từ 2008 đến nay, nếu số trẻ sơ sinh giảm mất khoảng bốn triệu thì chi phí của các gia đình Mỹ cho gia súc thân yêu lại tăng đến 50%! Theo thống kê của The American Pet Products Association APPA, Hiệp Hội Sản Xuất cho Gia Súc, thì năm 2007, dân Mỹ tốn $41 tỷ cho súc vật trong nhà, năm 2016, con số ước lượng là gần 63 tỷ. Người ta không chỉ phải mua thực phẩm mà còn tốn kém cho nhiều việc khác, như “giường,” “chuồng,” “áo quần” cho các mùa nóng lạnh, dịch vụ thú y, thuốc men và cả đồ chơi cần thường xuyên thay đổi vì bị cắn nát!
Người ta cứ tưởng nhiều gia đình nuôi thú trong nhà là vì cưng chiều con cái. Có lẽ sự thể lại khác: Khi kinh tế sa sút, người Mỹ ít đẻ con hơn mà vẫn nuôi thú làm vui và chi tiền bộn hơn trước. Tình cảm âu yếm chất chứa trong con người được dồn vào con thú.
Không có con để ôm ấp cưng chiều, người ta nuôi nấng và chăm sóc người bạn bốn chân trong nhà, nhiều nhất là chó mèo. Kỹ nghệ cung cấp sản phẩm cho gia súc không hề bị suy trầm mà còn phát đạt hơn. Khi kinh tế sa sút, người ta càng phải có thêm bầu bạn dù tốn kém cũng không nề hà. Và nói gì thì nói, nuôi thú cũng không cực bằng nuôi con! Ai cũng có thể kết luận như vậy.
Ở trên, chúng ta nói tới trào lưu của thế giới văn minh là có ít con hơn trước. Thế giới văn minh hơn vậy lại có nhiều thú trong nhà hơn trước. Cái “khoảng trũng” vì sinh đẻ ít hơn trong tám năm khó khăn vừa qua tại Hoa Kỳ chỉ là một bước hụt nho nhỏ – bốn triệu đứa trẻ không ra đời – trong khi chiều hướng nuôi thú làm bạn lại là hiện tượng trường kỳ. Cũng theo khảo sát của Hiệp Hội APPA, năm 1994, dân Mỹ tiêu 17 tỷ bạc cho gia súc, mười năm sau thì tốn gấp đôi, 34 tỷ vào năm 2004.
Tức là trung bình tăng 7% một năm, cho tới con số ngất trời là 63 tỷ cho năm 2016.
Trong cả ngàn tin chúng ta đọc hay thấy hàng ngày, loại dữ kiện “hiếm con nuôi thú” và “kết bạn bốn chân” rất đáng cho chúng ta suy nghĩ.
Theo thói quen rất Mỹ, nếu quý vị “chơi stock,” hãy tìm mua cổ phiếu của các doanh nghiệp sản xuất phẩm vật cho gia súc trong nhà. Nếu mức lời tăng được 7% một năm trong mấy chục năm liền thì ngon lành hơn chỉ số Standard and Poor’s, và có thể đáp ứng nhu cầu chi dụng cho con thú thân yêu trong phòng khách.
Thế còn sự cô đơn?
Kết luận ở đây là gì?
Giới kinh tế và xã hội học có thể tò mò tìm ra nhiều khía cạnh bất ngờ của đời sống. Nhưng có lẽ giới tâm lý học nên chú ý đến hiện tượng văn minh đó. Tình cảm dành cho con vật có thay thế được tình cảm cho con người không? Có cái gì đó rất đáng buồn trong thế giới văn minh.

































































