Ghi nhớ công ơn Quốc Tổ Hùng Vương

 


Tâm Nguyện Phan Chức/Người Việt Utah


Trên thế giới, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một nguồn gốc lịch sử riêng biệt. Ðối với người dân, dù sống trong nước hay tha phương, cội nguồn dân tộc luôn luôn tượng trưng cho những giá trị lịch sử dân tộc cao quý nhất và truyền thống văn hóa dân tộc thường được thể hiện qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán hay những hình thức xử thế mà Tổ tiên ta muốn truyền lại cho con cháu.

Hằng năm, đến ngày mồng 10 Tháng Ba Âm lịch, mọi người Việt Nam dù sống nơi phương trời nào đều hân hoan cử hành buổi lễ tưởng niệm ngày “Quốc Tổ Hùng Vương” đã sáng lập ra nước Việt Nam cách đây gần 5000 năm. Chúng ta thường quen gọi là ngày “Giỗ Tổ Hùng Vương.”

Dân tộc nào cũng có một cội nguồn, đất nước nào cũng có một Tổ tiên để ghi nhớ. Ngày Ðại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương mỗi năm chỉ có một lần, ngày mà mọi người vừa ghi nhớ công ơn của tiền nhân, vừa xác định lòng thủy chung son sắt của mình đối với tiền đồ của dân tộc. Ðây cũng là một ngày lễ của dân tộc để chúng ta bảo vệ và phát huy văn hóa của đất nước cho nhiều thế hệ sau này.


“Vật đổi sao dời, phúc Tổ vẫn lưu nền cổ tích,
Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ một Hùng Vương.”


Sau đây, chúng tôi cũng xin phép để trình bày sơ lược vài nét lịch sử và ý nghĩa về Lễ Tổ Hùng Vương.
Theo sử sách và tục truyền: Vua Ðế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, khi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, gặp một nàng Tiên là Vụ Tiên, kết hôn và sanh hạ một người con trai là Lộc Tục.

Về sau, Vua Ðế Minh truyền ngôi cho người con trưởng làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương quốc hiệu là Xích Quỷ (có nghĩa là chủ chốt các tinh học miền Nam). Ranh giới nước Xích Quỷ thời bấy giờ như sau: Bắc giáp Ðộng Ðình Hồ (tức Hồ Nam), Nam giáp Hồ Tôn (tức Chiêm Thành), Tây giáp Ba Thục, Ðông giáp biển Nam Hải.

Kinh Dương Vương Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất – năm 2879 trước Tây Lịch, sau đó kết hôn với con gái của Ðộng Ðình Quân là Long Nữ, sinh ra một con trai là Sùng Lãm nối ngôi vua cha là Lạc Long Quân – Lạc Long Quân lấy con gái của Vua Ðế Lai, tên là Âu Cơ.

Tục truyền rằng Bà Âu Cơ chỉ sinh được một bọc 100 trứng, nở 100 con, là một truyền thuyết có ngụ ý lịch sử. Sau này Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên nên ăn ở với nhau không được. Nay được 100 con, nàng đem 50 con lên núi, còn ta đem 50 xuống biển Nam Hải. Sau này, dân tộc Việt của nước Xích Quỷ chia ra nhiều bộ lạc mà người đời gọi là “Bách Việt.” Do danh hiệu “Bách Việt” (100 giống Việt) nên mới có chuyện “Một Bọc Trăm Trứng,” chữ “bọc” ở đây có nghĩa là “Gốc,” “Trăm” có nghĩa là “Nhiều” dòng máu Việt sinh ra nhiều bộ lạc Việt.

Cuối đời, Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua, lấy tên nước là Văn Lang, xưng là Hùng Vương, tức Quốc Tổ của dân tộc Việt Nam ngày nay. Tại nước ta, họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đóng đô ở Phong Châu, tỉnh Vĩnh Yên, Bắc Việt, được coi là nơi xuất phát đầu tiên của những sắc dân đã sinh ra người Việt Nam, chia nước làm 15 bộ; đặt ra phép trị nước lâu dài.

Mười tám đời Hồng Bàng gồm có các vị vua:

(1) Kinh Dương Vương; (2) Hùng Hiền Vương; (3) Hùng Quốc Vương; (4) Hùng Diệp Vương; (5) Hùng Hy Vương; (6) Hùng Huy Vương; (7) Hùng Chiêu Vương; (8) Hùng Vị Vương; (9) Hùng Ðịnh Vương; (10) Hùng Uy Vương; (11) Hùng Chinh Vương; (12) Hùng Vũ Vương; (13) Hùng Việt Vương; (14) Hùng Anh Vương; (15) Hùng Triều Vương; (16) Hùng Tạo Vương; (17) Hùng Nghị Vương; (18) Hùng Tuyền Vương.

Sử sách ngày nay không còn ghi lại được nhiều điều về triều đại Hồng Bàng. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian dài 2621 năm đó còn lưu lại nhiều truyền thuyết giúp cho chúng ta suy gẫm như:

-Sự tích Phù Ðổng Thiên Vương, nhờ cơm gạo của dân nuôi, cậu bé Phù Ðổng đã cao lớn thật nhanh, rồi dùng ngựa sắt và nhổ thân tre ở làng mình làm vũ khí đánh giặc Ân, Tổ tiên ta nói: Dùng chính sức mạnh của dân tộc mình làm chính là yếu tố căn bản để cứu nước.

-Với sự tích “Trầu Cau”, Tổ tiên ta đã nói đến tình thương anh em, sự chung thủy của vợ chồng.

-Sự tích “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, nước càng dâng, núi càng cao, đã nói lên ước vọng thăng tiến của dân tộc ta.

-Chuyện “Bánh Dày, Bánh Chưng”, tượng trưng cho Trời và Ðất, ngoài sự biểu lộ tính hiếu thảo của người con, còn nói lên tấm lòng trọn vẹn đối với Trời, Ðất, trọn lòng chung thủy với non sông.

Ðền thờ Hùng Vương Quốc Tổ được xây ở Phú Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ, Bắc Việt từ đời Vua Thục, tên An Dương Vương, hằng năm vào ngày mùng 10 Tháng Ba Âm lịch, dân chúng vẫn vào dịp đi trẩy “Hội Ðền Hùng” rất lớn.

Sử sách không ghi lại ngày “Húy Nhật” của Vua Hùng Vương nào trong 18 đời vua Hùng Vương, chúng ta chỉ hiểu rằng người xưa đã sớm biết chọn ngày để con cháu muôn đời về sau có dịp tụ họp nhau, kính nhớ Tổ tiên, nhớ công ơn dựng nước, giữ nước, nhớ công đức của những vị Vua Hùng đã sáng lập nên dân tộc Việt, dòng giống Việt, quốc gia Việt.

Là con người sinh ra trên cõi đời nầy, ai cũng có một Tổ quốc, một quê hương, trong đó có cội nguồn cả một dòng giống, được phát sinh và liên kết với nhau qua những thăng trầm của lịch sử đất nước.

Cũng như tất cả những người của các dân tộc khác, người Việt chúng ta đang sống ở đất nước qê người, từ nơi phương trời xa xôi nhưng lúc nào cũng hướng về quê Cha đất Tổ. Ðó là một nơi mà chúng ta đã sinh ra và trưởng thành.

Quê hương là một cái gì đó thật vô cùng cao quý và thiêng liêng, mà chỉ khi nào mất đi mới cảm thấy luyến tiếc, nhớ thương. Nhưng nói đến quê hương không chỉ có nghĩa là gợi nhớ lại một mảnh đất, một mái nhà. Nói đến quê hương là nói đến con người cùng một màu da, một dòng máu, nói chung một thứ tiếng, qui tụ mọi thành phần dân tộc không phân biệt tuổi tác, địa phương, tôn giáo, chính kiến cùng phát huy tinh thần “Ghi Nhớ Công Ơn Quốc Tổ Hùng Vương.”

Do đó chúng tôi ngưỡng mong ngày “Giỗ Tổ Hùng Vương” sẽ được duy trì tổ chức, cử hành hằng năm với sự hợp tác rộng rãi của các tôn giáo, hội đoàn và đồng hương, nhất là thành phần trẻ tuổi. Nhớ ơn Quốc Tổ không chỉ là ngày mừng “một kỷ niệm chết” đã qua đi trong dĩ vãng lịch sử, mà cần phải làm sống lại “Tinh thần Quốc Tổ” để cho con dân Việt có dịp tưởng nhớ công ơn Ðức Quốc Tổ và các bậc tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước. Ðồng thời các thế hệ trẻ không quên đi truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam và tỏ lòng kính hiếu đối với cha chung của dân tộc.

Trước hồn thiên sông núi và bàn thờ Quốc Tổ, chúng con vì hoàn cảnh lịch sử đất nước phải rời bỏ quê hương, đất Tổ đang sống lưu lạc nơi đất khách quê người, quây quần tại đây đốt nén tâm hương thành kính dâng lên Quốc Tổ, chư vị cứu quốc công thần, chiến sĩ trận vong, anh hùng liệt sĩ với lời nguyện cầu ân phúc Tổ tiên lai lâm chứng giám hộ trì lòng thành của chúng con.

-Xin soi sáng niềm tin, hướng dẫn và nâng đỡ cuộc đời hôm nay và ngày mai cho những đứa con lạc loài có tinh thần tương thân, tương trợ coi nhau như ruột thịt xóa bỏ tính chia rẽ, ích kỷ và hận thù.

-Xin ban phúc lành cho con cháu nguồn sinh lực mới để vượt khỏi chông gai trên đường đời, đường đạo để cùng nhau xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn.


Ðã sinh cùng một giống nòi,
Cùng trong đất nước là người đồng thân.
Phải xem ruột thịt xa gần,
Phải thương phải xót, quây quần lấy nhau.
Phúc cùng hưởng, họa cùng đau,
Một gan, một ruột ghi sâu chữ “Ðồng”

(Dương Bá Trạc [1884-1944])

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT