Tuyên bố lý do
Lễ Ðộng Thổ xây dựng
Cổng Tam Quan Chùa Phổ Quang
Ngày 10 tháng 4 năm 2010
– Kính thưa quý vị
– Thưa quý đồng hương và cộng đồng Phật tử
Hơn một năm trước đây chúng tôi có tiếp xúc và nhờ một công ty xây dựng tại Utah và giao khoán hoàn toàn công việc vẽ họa đồ và xin giấy phép xây dựng Cổng Tam Quan Chùa Phổ Quang nhưng vì công ty này quá nhiều việc cho nên, sau một thời gian hơn sáu tháng đã từ chối không giúp được.

Chúng tôi phải đi tìm một kiến trúc sư trình bày những khó khăn đã gặp phải và nhờ giúp đỡ để chùa có thể thực hiện công trình này. Sau nhiều lần tiếp xúc kiến trúc sư đã nhận lời hứa giúp để cúng dường Tam Bảo và không nhận một khoản tiền nào, nhờ thế tiết kiệm một số tiền khá lớn.
Công việc thiết kế và chuẩn bị hồ sơ trình lên Nha Kế Hoạch Thành Phố mất thời gian bốn tuần, đồng thời phải qua nhiều cơ quan như Tòa Thị Chính Salt Lake City, Văn phòng xét duyệt, Nha An Toàn Công Lộ Salt Lake City, Nha Quy Hoạch thành phố, Hội Ðồng Nhân Dân, Văn Phòng Cấp Giấy Phép, Văn Phòng Kỹ Sư Cấu Trúc để thêm những phần cần bổ sung về an toàn, về sức chịu đựng của cổng tam quan đối với tác động nằm trong vùng có động đất và gió mạnh.
Ngày 25 tháng 2 năm 2010 được giấy phép xây dựng theo họa đồ.
Kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2009 từ bước sơ khởi đến ngày 25 tháng 2 năm 2010, thời gian gần 6 tháng mới chính thức nhận được giấy phép xây dựng.
Ðây là một tâm nguyện của Hội Ðồng Quản Trị Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Utah Chùa Phổ Quang, Ban Trị Sự và toàn thể đại chúng Phật tử đã từng mong ước trông đợi, đóng góp tịnh tài, công sức từ lâu nay để thực hiện công trình này.
Cho đến hôm nay những điều nguyện ước trên đã trở thành hiện thực. Hội Ðồng Quản Trị đã ra quyết định thành lập Ban Thiết Kế và Ðiều Hành trách nhiệm trực tiếp kể từ ngày 28 tháng 3 năm 2010. Công việc xây dựng sẽ được xúc tiến vào ngày Lễ Ðộng Thổ 10 tháng 4 năm 2010 và dự định sẽ hoàn tất trong dịp Ðại Lễ Vu Lan năm Canh Dần nếu gặp nhiều thuận duyên.
Kế hoạch xây dựng sắp đến chia làm 2 phần:
1. Trưng dụng nhân lực thiện nguyện hiện có tại chùa với sự hướng dẫn của các chuyên viên thiết kế và kỹ thuật – thực hiện phần này chúng ta sẽ tiết kiệm được số tiền cho chùa và đồng thời gieo duyên cho Phật tử có cơ hội đóng góp công quả trong công việc Phật sự.
2. Những công việc có tính cách chuyên môn và kỹ thuật thì chúng tôi sẽ giao cho nhà thầu đảm trách. Ngoài ra chúng tôi sẽ khảo giá đặt hàng tại các nơi giá rẻ ngoài nước Mỹ. Ví dụ: mua ngói lợp của Nhật, mua các con rồng tại Ðài Loan, Trung Quốc hoặc Việt Nam, cổng sắt đặt hàng tại Việt Nam, cũng như thực hiện các trụ cột Stucco…
Chúng ta hãy tin tưởng và nguyện cầu hồng ân chư Phật, chư Bồ Tát, Long Thiên Hộ Pháp độ trì cho Phật tử chùa Phổ Quang vượt qua những chướng duyên để đạt được những điều nguyện ước hoàn thành viên mãn Cổng Tam Quan; một biểu tượng của ngôi chùa Việt Nam và đồng thời để tăng thêm sự trang nghiêm ngoại cảnh.
Ðường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi,
mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Phục vụ chúng sanh là báo đáp hồng ân chư Phật.
PL 2553, ngày 10 tháng 4 năm 2010
Hội Ðồng Quản Trị HPGVNTNU Chùa Phổ Quang
Ban Thiết Kế & Ðiều Hành Xây Cất Cổng Tam Quan
Trưởng Ban: Tâm Nguyện Phan Chức
***
Những truyền kỳ có liên quan đến Cổng Tam Quan
Chúc Diệu Sưu Tầm/Người Việt Utah
Sự tích Bồ Tát Quan Thế Âm
Thị Kính, người nước Cao Ly, nguyên kiếp trước là đàn ông, tu hành đắc đạo sắp thành Phật; nhưng Phật Thích-Ca muốn thử lòng, mới bắt đầu thai xuống làm một cô gái nghèo nhà họ Mãng, chịu nhiều cảnh oan khổ để xem sao. Lớn lên, Thị Kính lấy chồng học trò tên là Thiện Sĩ.
Một đêm chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, vợ ngồi khâu bên cạnh, thấy một sợi râu mọc ngược, sẵn có dao cầm tay nên toan cắt đi. Chồng giật mình tỉnh dậy, tưởng vợ có bụng hại mình, liền hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy tới, một mực gán cho Thị Kính tội mưu sát chồng. Nàng bị đuổi về nhà cha mẹ đẻ, vì quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân (Vân Tự), được đặt pháp danh là Kính Tâm.
Trong vùng có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ đa tình. Cô này lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm liền đem lòng say đắm. Bị Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo, nhưng trước sau Kính Tâm vẫn thờ ơ. Không nén được lòng ham muốn, Thị Mầu có mang với người đầy tớ. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm. Vì thế Kính Tâm bị sư cụ phạt bắt ra ở ngoài cổng chùa.
Ít lâu sau, Thị Mầu sinh một con trai, bèn đem tới cổng chùa giao phó cho Kính Tâm nuôi dưỡng. Ðộng lòng thương trẻ thơ vô tội, tiểu Kính Tâm nhận lấy, ngày ngày bồng trẻ đi xin sữa, nấu cháo loãng để nuôi dưỡng, chịu đựng biết bao điều dè bỉu, lăng mạ. Ðược ba năm đứa bé đã khôn lớn, Kính Tâm mắc bệnh nặng rồi mất. Trước khi qua đời, Kính Tâm có viết một bức thư để lại cho cha mẹ.
Xem thư tuyệt mệnh của tiểu Kính Tâm, người nhà mới biết tội mưu giết chồng là oan ức. Khi liệm thi hài, sư, vãi trong chùa mới rõ Kính Tâm là phụ nữ. Vậy là cả hai nỗi oan đều được tháo gỡ. Ðức Phật Thích-Ca xét Kính Tâm quả là người tu hành đắc đạo, cho bà được siêu thăng làm Bồ Tát Quan Âm.
Truyện Quan Âm Thị Kính chính là một lời cảnh báo cho những người chọn con đường thanh nhàn khi đi tìm tới đạo Phật. Ðể đắc đạo, người ta không những phải chịu nhiều khổ hạnh, mà còn phải chịu những oan ức bất công nữa… như Thị Kính, oan uổng đến vậy mà không hề oán trách trời và số phận, chỉ lấy từ tâm, bất thối tâm mà chiến thắng cảnh ngộ, để rồi từ đó một vị Bồ Tát ra đời với đại nguyện cứu độ chúng sinh trong khổ nạn, mà đã bao đời được tôn xưng là Mẹ hiền Quán Âm.
Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa,
Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.
Vua Lý Thái Tổ
Thân sinh của vua không rõ tên, chỉ biết rằng năm Canh Tuất (1010) được vua tôn phong làm Hiển Khánh Vương, còn trong dã sử và giai thoại dân gian có nhiều thuyết kỳ lạ về việc ai là cha của Lý Thái Tổ. Thân mẫu vua là bà Phạm Thị Ngà, người làng Dương Lôi, hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, sau khi lên ngôi ông đã truy phong bà làm Minh Ðức thái hậu.
Trong số các truyện kể mờ ảo về người cha của vua Lý Thái Tổ, có thuyết cho hay ông vốn nhà nghèo phải đi làm thuê tại chùa Tiên Sơn, ở đây ông đã phải lòng một tiểu nữ và làm cô có thai. Biết chuyện này, nhà chùa không cho họ ở đó nữa mà buộc phải đi chỗ khác, hai người đành dẫn nhau đến một khu rừng rậm gọi là rừng Báng, mệt quá bèn dừng lại nghỉ chân.
Ðể vợ ngồi chờ, người chồng khi tìm nước uống để qua cơn khát, đến bên một bờ giếng giữa rừng, ông cúi xuống lấy nước, chẳng may sẩy chân, ngã xuống chết đuối. Người vợ đợi mãi mà chồng không quay về bèn đi tìm nhưng chẳng thấy; đến giếng xem thì đất đã đùn lấp kín cả giếng. Biết chuyện chẳng lành xảy ra với chồng, người phụ nữ khóc lóc một hồi rồi xin vào nghỉ nhờ ở một ngôi chùa gần đó.
Ðêm hôm trước, sư trụ trì của chùa nằm mơ thấy Long thần báo mộng rằng: “Hãy dọn chùa cho sạch, ngày mai có hoàng đế đến.” Tỉnh dậy, nhà sư sai người làm theo lời nói đó rồi chờ đợi, thế nhưng mãi chẳng có ai tới chùa ngoài một thiếu phụ có thai đến xin ngủ nhờ.
Vài tháng sau, vào một đêm ở khu Tam Quan của chùa bỗng rực sáng, hương thơm lan tỏa, người thiếu phụ kia chuyển dạ sinh một con trai trên hai bàn tay có 4 chữ “sơn hà xã tắc,” sau đó trời bỗng nổi gió lớn mưa to như trút nước, người mẹ sinh xong thì mất, mối đùn lên một đống lớn; từ đó người dân gọi chùa Ứng Tâm bằng một tên khác là chùa Rặn (gọi chệch là chùa Dận).
Nghe tiếng khóc lớn của đứa trẻ, các nhà sư vội chạy ra đưa vào trong Phật điện dỗ dành nhưng ai bế cũng không nín. Khi sư trụ trì chùa là Lý Khánh Vân đưa tay bồng thì cậu bé im bặt và còn nhìn sư nhoẻn miệng cười. Biết đây là cơ duyên đưa tới, nhà sư liền nhận làm con nuôi, lấy theo họ Lý và đặt tên là Công Uẩn…
Ðến 7 tuổi, Lý Công Uẩn được sư Khánh Vân gởi cho một người bạn là thiền sư nổi tiếng là Vạn Hạnh dạy dỗ. Ông đã được sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ khen như sau: “Ðứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ.”
Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Vạn Hạnh vào hầu vua Lê Ðại Hành (thời Tiền Lê) ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là Lê Thị, sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Ðiện tiền Cận vệ ở thành Hoa Lư… Dần dần, Công Uẩn được thăng lên chức Ðiện tiền Chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Chính nhờ vậy mà về sau, Lý Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho họ Lý, trở thành vị vua đầu tiên đời nhà Lý, miếu hiệu là Lý Thái Tổ.
Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, ông là người khoan thứ nhân từ, có lượng đế vương.



























































































