Hằng Nguyễn
Trước hết, tôi chỉ mong là các bạn khi đọc bài này hiểu cho một điều đây là kinh nghiệm của cá nhân tôi mà thôi.
Khi tôi đến Mỹ, con gái tôi chỉ mới 4 tháng tuổi. Thời gian đầu thì còn được ăn tiền trợ cấp, tôi chỉ ở nhà chăm con, hằng ngày chỉ biết mở tivi lên và lắng nghe người ta nói.
Như các bạn đã biết, hầu hết các vị ở lứa tuổi tôi khi học tiếng Anh ở Việt Nam là học English do người Anh nói. Tiếng Anh do người Anh nói là một loại tiếng Anh rất chuẩn, “accent” của người Anh cũng khác hoàn toàn người Mỹ. Thời gian đầu tôi rất lúng túng nên muốn hiểu, tôi phải nhìn vào caption (hàng chữ chạy trên màn hình TV cho những người câm điếc) và cố gắng nghe theo để nhận ra kiểu người Mỹ phát âm. Người Mỹ trắng nói đã khó nghe rồi, người Mỹ đen còn khó nghe hơn. Chỉ mỗi một khác biệt giữa hai cách nói từ “can’t” của người Anh và người Mỹ cũng đã gây đau đầu rồi.
Ông bảo trợ của vợ chồng tôi là người Mỹ đen, mỗi lần ông ghé nhà xổ một tràng là hai vợ chồng tôi nhìn nhau như hai thằng điếc. Dù ở Việt Nam cả hai cũng có chút vốn liếng, những tưởng là sẽ không có trở ngại nhiều, nhưng chúng tôi đã lầm. Mớ tiếng Anh chúng tôi đã học hình như không là gì cả. Đã thế, ông này cứ liệt chúng tôi vô hạng “no English” nên mỗi lần muốn nói gì với mình là ông gọi người thông dịch tới, làm cho chúng tôi đã nản càng nản hơn.
Rồi tiền trợ cấp bị cắt, hai vợ chồng phải đi làm. Thời gian đầu tôi chỉ dám nói chuyện với những người đến từ những quốc gia không nói tiếng Anh như Lào, Thái Lan hoặc Nga… Bởi những người này họ nói chậm, vốn từ cũng có hạn và không dùng tiếng lóng như người Mỹ. Càng nói thì càng dạn dĩ hơn và từ từ tôi mới dám “tâm sự” với người Mỹ. Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ là những câu chào hỏi thông thường, còn khi đi sâu vào vấn đề thì tôi cũng… điếc.
Một tấm ảnh hiếm hoi của lớp học đàm thoại tại nhà thờ. Ngồi giữa là cô giáo, bà qua đời cách đây hai năm. Tác giả ngồi bên phải. (Hình: Hằng Nguyễn cung cấp)

Thành phố tôi ở có một trường dạy ESL (English as a Second Language) miễn phí. Mùa Đông năm đó lạnh ơi là lạnh, tôi cũng ráng xếp hàng chờ để đăng kí học. Tuy nhiên khi xếp lớp thì họ bắt tôi học từ dưới lên. Mình đã có chút ít vốn liếng về từ vựng cũng như ngữ pháp, vào học lại từ đầu, khác nào phí thời gian. Đã vậy phải ngồi chung lớp với mấy sắc dân từ châu Phi. Không biết tụi nó vài tháng mới tắm một lần hay là dùng loại thảo dược gì mà tôi không thể nào chịu được cái mùi của họ. Thế là tôi bỏ.
***
Cũng như bao gia đình người Việt định cư ở Mỹ, chúng tôi lao vào làm việc để ổn định cuộc sống, đành phải gác bỏ chuyện học hành sang một bên. Ấy là tôi nói chuyện lấy bằng cấp để có tương lai hơn. Tuy nhiên sống ở xứ này, chuyện học tiếng Anh có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu.
Với vốn từ vựng có được, tôi bắt đầu để ý hơn cách dùng từ vào câu của người Mỹ. Bấy giờ tôi mới nhận ra rằng, cách sử dụng từ lâu nay của tôi quá dài dòng và đôi khi không hợp với ngữ cảnh. Cách nói của người Mỹ rất đơn giản, gọn nhẹ, không rườm rà như lối hành văn mà tôi học được khi học ở Việt Nam. Nhưng để thay đổi chỉ một điểm nhỏ này thôi, tôi phải cố gắng trong một thời gian dài. Kế tiếp là phải thay đổi “accent” mà lâu nay tôi đã dùng. Bởi không thay đổi thì chẳng ai hiểu mình cả.
Trên radio của Mỹ có những chương trình “talk show,” tôi phải cố gắng ép mình nghe những chương trình này. Đôi khi nhảm nhí đến vô vị, nhưng tôi phải ráng vì không có chọn lựa nào khác.
Khi làm việc ở một nơi nào, tôi đều “kết thân” với một vài người Mỹ, và trò chuyện với người ấy. Khi còn làm hãng, những vị tôi “kết thân” toàn là những người mà, theo tiếng Việt mình, gọi là dân “thợ thuyền”. Từ những vị này, tôi học được nhiều từ vừng thuộc văn hoá, ngôn ngữ dân dã… Những vị này rất dễ thương, họ không cười mình mà lại chỉnh sửa cho mình nói câu đúng. Nhưng những gì tôi học được từ họ cũng chỉ là những câu đàm thoại đơn giản hàng ngày.
Mỗi sáng Thứ Tư tôi vào học lớp đàm thoại do một nhà thờ tổ chức. Lớp học này chỉ toàn phụ nữ, được tổ chức cho những những bà mẹ có con nhỏ không thể đến lớp. Phần lớn là sinh viên từ Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil và các nước Trung Đông. Chúng tôi mang con cái theo, lớp có người cử ra để chăm bọn trẻ ở một góc phòng. Còn các bà mẹ thì ngồi theo bàn để xếp theo trình độ, và mỗi bàn một cô giáo. Các cô giáo là những người đã nghỉ hưu, chỉ đứng ra làm việc tự thiện cho vui tuổi già. Chúng tôi cứ tụm đầu nhau và “tám” đủ thứ chuyện trên đời.
***
Rồi con gái tôi bị chẩn đoán mang bệnh tự kỉ. Sự kiện này đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chúng tôi, tất nhiên là cả việc học tiếng Anh của tôi.
Từ ngày ấy, con gái cho mẹ làm việc với những người thuộc một tầng lớp xã hội khác. Bấy giờ, những người tôi phải tiếp xúc bao giờ cũng có một hai hoặc ba chữ cái viết tắt đằng sau tên của họ mà lúc đầu tôi chẳng biết là cái gì. Mấy vị này thì ăn nói một loại tiếng Anh khác, văn hoa hơn nhiều, và gây cho tôi không ít phiền toái, bởi trước giờ tôi chỉ tiếp xúc với “giới thợ thuyền” mà thôi. Cuộc sống của tôi đã bận rộn lại càng bận rộn hơn với những cuộc hẹn cùng ông bác sĩ này, bà bác sĩ kia, therapy này, therapist nọ… Rồi khủng khiếp hơn là khi quyền lợi của trẻ tự kỉ bị cắt bớt từ quận hạt. Nhóm cha mẹ đặc biệt này lại phải họp nhau để… tâm tình với luật sư… Thế là cái sự học tiếng người ta của tôi không có kế hoạch nhưng lại bị chuyển sang một trang mới.
Có thể nói những cô giáo tới nhà dạy cho con tôi là những giáo viên tiếng Anh thực sự của tôi. Họ đến nhà dạy con gái tôi và do tiểu bang trả lương, nhưng tôi là người phải phỏng vấn, thuê người, sắp xếp thời khoá biểu, giờ giấc… “Bà chủ” bất đắc dĩ này bây giờ phải đương đầu với những công việc mới, giao tiếp với những sinh viên cực kì giỏi của Ohio State University (OSU).
Những cô giáo này đều là sinh viên đại học nên ăn nói rất đàng hoàng. Các cô rất dễ thương, luôn chỉnh sửa cho tôi khi tôi nói gì sai. Nhưng cách chỉnh sửa của họ luôn luôn lịch sự và mang tính giáo dục, không làm cho mình… quê. Cũng có một số cô giáo trở thành bạn thân của tôi sau một thời gian làm việc với gia đình tôi.
Tôi vốn là một người rất “private,” rất “quiet” và không nói nhiều. Ngày xưa học đại học, có nhiều đứa bạn trong lớp hình như không biết có sự tồn tại của tôi vì tôi sống rất lặng lẽ. Nhưng khi đến xứ này, tôi phải ép bản thân mình thay đổi. Tôi phải trở thành một người out-going, năng động và phải tìm tòi học hỏi những điều mới, làm quen với người mới và tìm hiểu, tâm sự với họ. Chỉ có cách đó mới có thể giúp cho tôi hội nhập với xã hội mới, tìm ra cách để giúp cho con gái tội nghiệp của tôi. Đây cũng là cách để tôi cải thiện khả năng nói tiếng Anh của tôi.
***
Khi quyết định học LPN (Licenced Practical Nurse), tôi vào trường thử hai bài test, một là English và hai là toán. Toán thì không thể gây khó khăn cho tôi rồi, còn English thì tôi chỉ vừa đủ điểm để vào học.
Đây là lần đầu tiên tôi học một cách chính thức ở xứ này. Người đứng lớp bây giờ không còn gọi là “teacher,” mà họ được gọi là “instructor.” Điều đó có nghĩa là họ không dạy mà chỉ làm vai trò hướng dẫn. Còn sinh viên là người phải thực sự làm việc. Tôi nhớ buổi học đầu tiên cho chương trình LPN là môn “anatomy,” học về cơ thể người. Sau vài buổi học, tôi gần như muốn drop off. Trên lớp cô giáo giảng sơ sơ, tôi đã không hiểu rồi, về nhà còn phải đọc thêm 5, 6 chương mỗi đêm, mà tôi thì lúc này còn phải sử dụng tự điển. Nhưng tiền đã đóng rồi, có lẽ vì… tiếc tiền nên tôi phải ráng.
Dần dần, tôi quen với giọng của cô giáo nên từ từ tôi cảm thấy là mình có thể vượt qua. Tôi còn nhớ môn anatomy, bài test đầu tiên tôi được 88%, trong khi hơn một phân nửa lớp dưới 50%. Đó là một động lực lớn cho tôi một lý do để tiếp tục kiên trì.
Trường tôi học LPN là một “vocational school” chứ không phải đại học cộng đồng (community college). Khi đăng ký học thì tôi không hề biết là tôi may mắn. Vì nếu vào community college, có lẽ tôi đã phải học lại rất nhiều lớp tiếng Anh, vốn mất rất nhiều thời gian. Bởi vậy mà có nhiều bạn người Việt Nam cứ vào đây rồi cứ phải lấy hết tiếng Anh này rồi lớp Toán nọ. Nên khi tôi đã xong chương trình LPN và ra đi làm thì họ vẫn cứ phải còn học tiếng Anh. Thế là họ nản và bỏ dù chưa học xong cái gì cả.
Tuy nhiên, vì không phải học qua những lớp tiếng Anh cần thiết cho chương trình đại học, nên khi học chương trình RN (registered nurse) tôi lại gặp phải một vấn đề lớn. Sau khi học xong những lớp đại học đại cương cần thiết để vào chương trình RN, họ phát hiện ra tôi không đủ credit cho môn tiếng Anh. Thế là tôi lại phải vào đại học cộng đồng, làm bài kiểm tra cho “English placement.”
Bấy giờ tôi được xếp vào lớp ESL 99. Chồng tôi lúc bấy giờ hay đùa: “Ôi giời, nhà tui có bà y tá mà bả đang đi học ESL”. Đúng vậy, tôi đã đi ngược đường. Mấy vị ngồi chung lớp ESL với tôi toàn là chuẩn bị tiếng Anh để vào học đại học. Còn tôi, lấy lớp tiếng Anh để kết thúc chương trình học.
Nói là học để tốt nghiệp nhưng tôi phải đi qua lớp ESL 99, rồi lớp English 100. Lớp 99 là lớp ESL cao nhất ở trường này cho những vị từ những quốc gia không nói tiếng Anh như tôi. Lớp học này rất vui vì đủ thứ sắc dân tụ tập vào một lớp. Cứ 15 phút đầu giờ là chúng tôi phải đàm thoại đủ thứ chuyện trên đời. Vì là lớp tập trung nhiều sắc dân nên ôi thôi vui vô cùng. Lớp này không còn quan trọng về văn nói nữa mà là văn viết. Học xong lớp này thì học sinh phải biết viết một bài văn đàng hoàng, mà trong đó mỗi đoạn phải có ý tứ mạch lạc liên kết với nhau.
Lớp English 100 là lớp đầu tiên không còn gọi là ESL. Lớp này ngoài dân nước ngoài, chúng tôi còn có không ít người Mỹ. Có lẽ mấy anh chị này thuộc loại “chậm tiêu” hoặc “dở văn” nên không vượt qua cái ải “class placement” khi làm bài kiểm tra. Lớp tiếng Anh này chủ yếu là viết. Vả lại học với người Mỹ nên hình như anh chị nào cũng thụ đông, không vui bằng mấy lớp dưới.
Sau lớp English 100, tôi phải học thêm hai lớp là English 101 và English 102. Hai lớp này là đòi hỏi của đại học đại cương. Ngành nào cũng phải học qua lớp English 101. Riêng trường tôi đòi thêm 2 tính chỉ nên tôi phải vượt qua lớp English 102. Càng học sâu hơn vào văn viết của tiếng Anh, tôi thấy ngôn ngữ này cũng khó và có luật lệ đàng hoàng như ngữ pháp tiếng Việt của mình. Muốn viết văn hay, người viết chẳng những phải biết dẫn dắt người vào những tình huống lạ, mới, mà còn phải biết vận dụng ý tứ chặt chẽ trong từng câu văn, đoạn văn. Tất nhiên là tôi không còn hơi sức đâu mà để ý đến những vấn đề này. Mục đích của tôi lúc bấy giờ là làm sao cho đủ credits để ra trường.
Tuy nhiên, tôi có cơ hội để ý và so sánh cách học tiếng Anh và dạy tiếng Anh ở đây và bên nhà. Dù là lớp học writing, sinh viên vẫn phải “nói” rất nhiều. Hầu như ngày nào chúng tôi cũng phải làm “presentation,” nói về một vấn đề gì đó trước cả lớp. Lối học này tạo điều kiện cho mỗi học sinh, sinh viên trau dồi khả năng nói trước đám đông và phát huy tính tự tin của mỗi con người.
***
Có thể nói, chặng đường học “tiếng người ta” của tôi có rất nhiều điều thú vị. Khách quan có, chủ quan có, nhưng chắc là ít có ai đến xứ này có những tình huống phải học tiếng Anh như tôi. Dẫu sao thì tôi cũng cám ơn tất cả những khách quan và chủ quan mà cuộc sống mang đến cho tôi, để bây giờ không còn phải e ngại khi phải tiếp xúc với người Mỹ như lúc mới tới đây.
Từ kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy: khi bạn học theo một cách, nếu thấy không có kết quả thì bạn phải thay đổi. Đôi khi phải thay đổi luôn cả một tính cách trong giới hạn có thể. Khi học tiếng Anh, bạn đừng e ngại là người ta sẽ cười mình khi mình nói sai. Có sai thì mới có đúng. Có rất nhiều người ngoài kia sẵn sàng chỉnh sửa cho bạn. Nếu bạn không cho người ta biết là mình nói sai thì làm sao người ta giúp bạn?













































































