Trầm cảm sau khi sinh và rào cản văn hóa đối với các người mẹ gốc Việt

LTS: Nhật báo Người Việt hợp tác với đại học University Southern California (USC) qua chương trình “2025 Ethnic Media Health Reporting Collaborative” để nghiên cứu các chủ đề liên quan đến cải tổ y tế của California như sức khỏe tâm thần, sức khỏe di dân, thiếu thốn về kinh tế và thực phẩm, vô gia cư… mang đến cái nhìn phổ quát cho cộng đồng thiểu số. Đây là bài viết thứ hai về đề tài này.

Trà Nhiên/Người Việt 

Trong cộng đồng gốc Việt, nhiều người mẹ bị trầm cảm sau khi sinh con, nhưng phải chiến đấu trong thầm lặng. (Hình minh họa: Thatchai Chanajit/GettyImages)

GARDEN GROVE, California – “Đã có lúc tôi từng nghĩ bỏ hết tất cả, bỏ cả đứa con tôi đứt ruột đẻ ra để về Việt Nam. Thậm chí, tôi còn nghĩ quẩn nữa…”

Đó là tâm sự của cô Thiên Nguyễn, người mẹ của đứa con 4 tuổi, hiện đang ở Garden Grove cùng gia đình chồng. 

Hai năm trước, cô Thiên được chẩn đoán bị trầm cảm sau khi sinh con (Postpartum Depression – PPD) và tiếp nhận trị liệu với bác sĩ tâm lý chừng hai năm. 

Câu chuyện của cô Thiên không phải là điều hiếm gặp. Trong cộng đồng Việt Nam, nhiều người mẹ âm thầm chịu đựng những tổn thương tinh thần do PPD mà không được chẩn đoán hay hỗ trợ đúng cách. Sự kỳ thị văn hóa, thiếu hụt nguồn lực về sức khỏe tâm thần và rào cản ngôn ngữ thường khiến họ ngần ngại tìm kiếm giúp đỡ, khiến nhiều người phải âm thầm vật lộn đơn độc.

Triệu chứng nghiêm trọng của PPD

PPD là một tình trạng sức khỏe tâm thần nghiêm trọng ảnh hưởng đến phụ nữ sau khi sinh như cảm giác buồn bã kéo dài, lo lắng và kiệt sức, có thể cản trở khả năng chăm sóc bản thân và em bé.

Theo Bác Sĩ Suzie Xuyến Đông, giám đốc khoa Sức Khỏe Hành Vi và Tâm Lý của Trung Tâm Y Tế Southland Integrated Services, Garden Grove, “PPD không giống như ‘baby blues’ – những thay đổi tâm trạng ngắn hạn và sự nhạy cảm về cảm xúc mà nhiều người mẹ mới sinh trải qua – PPD kéo dài hơn, cường điệu, và cần được chăm sóc y tế.”

PPD có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong năm đầu tiên sau khi sinh và bị ảnh hưởng do các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, và hệ thống sức khỏe của xã hội.

Bác Sĩ Suzie cũng bổ sung thêm các triệu chứng của PPD như rối loạn cảm xúc và suy nghĩ như cảm thấy trống rỗng, vô cảm, không có kết nối với con, thấy xa cách với người xung quanh, khóc nhiều, hồi hộp, lo sợ, suy nghĩ muốn hại em bé… 

Nữ bác sĩ cũng nói thêm về triệu chứng của rối loạn thể chất như: mệt mỏi, mất năng lượng, ăn uống thất thường, giấc ngủ bất thường, đau đớn thân xác không rõ lý do…

Cô Thiên Nguyễn nói về các triệu chứng của PPD mà cô trải qua như cuộc sống trở nên tăm tối, sức khỏe lao dốc, không có hứng thú sống, không muốn chăm sóc con nữa, và muốn tự tử.

Cô Thiên tâm sự rằng cô có uống thuốc trầm cảm nhưng vì không hợp, khiến cô ói nhiều lần, gây buồn ngủ, nên cô phải đổi nhiều loại thuốc. 

Theo một báo cáo của Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ (CDC) năm 2017, tỉ lệ phụ nữ bị PPD tại 27 tiểu bang ở Mỹ là gần 12%, tức là khoảng một trong chín bà mẹ sau sinh mắc phải tình trạng này.

Dữ liệu năm 2021 được công bố trên American Journal of Obstetrics and Gynecology (AJOG) cho thấy tỉ lệ PPD tăng hơn gấp đôi trong thập niên qua, từ 9.4% vào năm 2010 lên đến 19.3% vào năm 2021 – tăng 105% theo dữ liệu hồ sơ y tế từ hệ thống Kaiser Permanente ở Nam California. 

Đáng chú ý, phụ nữ gốc Á và các đảo Thái Bình Dương (Asian and Pacific Islander – API) có mức tăng cao nhất, từ 3.6% lên đến 13.8%, tức tăng 280%.

Sự gia tăng đột biến này phản ảnh một xu hướng đáng lo ngại, đặc biệt là trong các cộng đồng người gốc Á tại California. Trên toàn quốc, phụ nữ API cũng có khả năng mắc PPD cao hơn so với phụ nữ da trắng, da đen, hoặc gốc Latino, cho thấy sự cần thiết phải có thêm nghiên cứu chuyên sâu và hỗ trợ sức khỏe tâm thần phù hợp với văn hóa.

Các người mẹ khác cũng cùng hoàn cảnh

Trường hợp của cô Lan (từ chối tiết lộ tên họ), 28 tuổi, cư dân Stanton, có con 2 tuổi, nhận ra cô bị các triệu chứng của PPD khoảng thời gian em bé 15 tháng tuổi.

“Tôi buồn chán nhiều hơn, không thích nghe tiếng con khóc, không thích ồn ào. Lúc nào cũng thấy mệt mỏi, khó chịu,” cô Lan kể.

Cô Lan cho biết áp lực công việc cũng là một thử thách khiến cô không thể chăm sóc chính mình và chăm sóc tốt cho con.

Cô kể bé 15 tháng tuổi là bé thứ hai, khi đứa con đầu sinh ra cô hoàn toàn khỏe mạnh và tâm trạng ổn định.

Cô cũng chia sẻ về các lầm tưởng của PPD như thoạt đầu nghĩ nỗi buồn, chán chường, sẽ chóng qua, hoặc là “baby blues,” nhưng nếu tần suất dày đặc thì nên xem xét lại.

“Lúc đầu, tôi cũng chỉ nghĩ là mình đi làm về mệt nên nghe tiếng em bé khóc thì cáu gắt thôi, nhưng mỗi lần nghe tiếng khóc tôi lại nghĩ lung tung như có ý đánh bé… và tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần,” cô Lan kể.  

Bác Sĩ Suzie cũng cho biết hiểu sai về PPD cũng làm gia tăng mâu thuẫn giữa các thế hệ.

“Nhiều gia đình lầm tưởng về việc người mẹ có những triệu chứng là do ‘hormone’ thay đổi sau khi sinh, hoặc ‘baby blues,’ nên coi thường các dấu hiệu đó dẫn đến thiếu sự đồng cảm với người mẹ, và bất đồng trong việc chăm sóc con cái,” nữ bác sĩ nói.

Bác Sĩ Suzie cũng chia sẻ về các yếu tố ảnh hưởng khiến PPD nặng thêm như: người mẹ từng có trầm cảm trong quá khứ, hoặc tâm bệnh khác, không có sự hỗ trợ và không có người thân bên cạnh, gặp biến chứng khi mang thai hoặc khi sinh em bé, căng thẳng trong cuộc sống, khó khăn khi cho con bú sữa mẹ, và mất ngủ hoặc thiếu ngủ liên tục…

Trầm cảm sau khi sinh con có thể kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe cho cả người mẹ và em bé. (Hình minh họa: Philippe Lissac/Getty Images)

Mâu thuẫn giữa các thế hệ trong việc nuôi dưỡng em bé 

Cô Thiên Nguyễn, 35 tuổi, nói về cú sốc văn hóa khi mới qua Mỹ phải hòa nhập cuộc sống nơi xứ người, và còn cú sốc khác là mang thai đứa con đầu lòng.

“Chồng tôi là con một và bé cũng là con đầu của hai vợ chồng. Cha mẹ chồng thì lớn tuổi nên có cách nhìn nhận khác về việc nuôi con và than phiền rất nhiều. Tôi không có được sự đồng cảm từ gia đình chồng nên nhiều lúc rất tủi thân,” cô kể.

“Mỗi lần con khóc thì bị cha mẹ chồng la. Khoảng thời gian đó tôi khủng hoảng vô cùng, một ngày tôi chỉ ngủ hai tiếng và cảm thấy quá tải,” cô nói.

Cô chia sẻ rằng thời điểm đó cô cũng không biết lái xe nên chỉ quanh quẩn ở nhà trông con khiến cho tâm trạng càng thêm u uất.

“Cha mẹ chồng nấu cơm cho tôi thời kỳ hậu sản nhưng kiêng cữ nhiều điều như không ăn đồ ăn có nước hoặc súp, chỉ cho ăn cơm với thịt kho và đồ ăn khô suốt một thời gian dài,” cô Thiên kể.

Cô tiếp: “Trong lúc chơi với bé, bà nội bé còn đưa ngực cho bé bú nữa. Bác sĩ chẩn đoán là bị PTSD (rối loạn căng thẳng sau sang chấn) nên bé không còn bú mẹ sau 3 tháng tuổi.”

Cô nói bác sĩ cho biết trẻ em chỉ được bú từ mẹ thôi để tránh trường hợp bị PTSD như trường hợp của con cô Thiên.

Với trường hợp cô Lan, gia đình cũng khuyên ở cữ như các mẹo ông bà truyền lại như không được tắm sau khi sinh con trong vài tuần vì sợ nhiễm lạnh, không được ra ngoài trong vòng một tháng do sợ trời gió… 

“Gia đình tôi cũng tương đối dễ nên không nhất thiết phải nghe theo các điều ở cữ, hễ điều nào vợ chồng tôi thấy phù hợp thì làm theo thôi,” cô Lan nói.

Các yếu tố khiến PPD trở nên trầm trọng với phụ nữ gốc Việt

Bác Sĩ Suzie cũng nhấn mạnh các yếu tố ảnh hưởng đến người mẹ liên quan đến văn hóa như “phụ nữ Việt Nam thường được dạy lo cho gia đình và người khác nên vô tình bỏ bê bản thân.”

Trong văn hóa Việt Nam, các vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm cả PPD, thường bị kỳ thị. Nhiều phụ nữ có thể cảm thấy áp lực phải tỏ ra mạnh mẽ và che giấu những khó khăn của mình, do lo sợ bị gia đình và cộng đồng phán xét. Việc tìm kiếm sự trợ giúp chuyên nghiệp đôi khi bị xem là đáng xấu hổ, dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp không được báo cáo và không được điều trị.

Các giá trị truyền thống của người Việt nhấn mạnh sự hy sinh và kiên cường trong vai trò làm mẹ. Phụ nữ có thể cảm thấy áp lực lớn trong việc tuân thủ các tập tục sau khi sinh, chẳng hạn như ở cữ. Nếu những kỳ vọng này không được đáp ứng – đặc biệt là với phụ nữ gốc Việt không có sự hỗ trợ từ gia đình – họ có thể cảm thấy tội lỗi hoặc thiếu sót, khiến các triệu chứng PPD trở nên trầm trọng hơn.

Phụ nữ gốc Việt, đặc biệt là những người nhập cư hoặc thế hệ đầu tiên, phải đối mặt với nhiều thách thức khi cân bằng giữa phong tục truyền thống Việt Nam và các chuẩn mực xã hội của Mỹ. Những khó khăn về rào cản ngôn ngữ, áp lực tài chính và sự khác biệt trong quan niệm nuôi dạy con cái có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc PPD.

Rào cản ngôn ngữ, sự thiếu hụt các chuyên gia y tế có hiểu biết về văn hóa, và khó khăn tài chính thường ngăn cản phụ nữ gốc Việt tìm kiếm sự trợ giúp chuyên nghiệp về sức khỏe tâm thần. Nhiều người có xu hướng tìm đến các phương pháp chữa trị tâm linh hoặc sử dụng thảo dược thay vì điều trị bằng liệu pháp tâm lý hoặc thuốc, dẫn đến việc trì hoãn điều trị hiệu quả.

Lời khuyên cho các người mẹ 

PPD có thể kéo dài trong nhiều năm. Phụ nữ có tiền sử rối loạn cảm xúc thường có nguy cơ trải qua các triệu chứng PPD nghiêm trọng và kéo dài hơn. Ngoài ra, những người mắc tiểu đường trong thai kỳ cũng đối mặt với nguy cơ bị trầm cảm cao hơn sau khi sinh.

Hiện nay, hầu hết các bác sĩ chỉ sàng lọc PPD trong vòng sáu tháng đầu sau khi sinh. Việc kéo dài thời gian sàng lọc có thể giúp phát hiện thêm nhiều trường hợp phụ nữ tiếp tục gặp khó khăn sau khoảng thời gian này.

Nếu không được điều trị, PPD có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả mẹ và con. Các nghiên cứu cho thấy, con của những bà mẹ bị PPD không được chữa trị có nhiều khả năng gặp các vấn đề về phát triển, cảm xúc, và hành vi, thậm chí có nguy cơ cao mắc các rối loạn tâm thần lâu dài.

Về phía người mẹ, nếu không được can thiệp kịp thời, họ có thể tiếp tục vật lộn với trầm cảm, gặp vấn đề về cân nặng, lạm dụng chất kích thích, khó khăn trong các mối quan hệ, và việc cho con bú.

Bác Sĩ Suzie khuyên các người mẹ phải tập luyện việc quan tâm tới bản thân, cảm thông với bản thân, ngừng việc phán xét chính mình, và quan trọng là tập chấp nhận.

“Các người mẹ có dấu hiệu PPD nên nói chuyện với người hỗ trợ đáng tin tưởng như gia đình, bạn bè, và chuyên gia tâm lý để giúp nhận thấy giá trị của bản thân,” bà chia sẻ.

Nhiều phụ nữ gốc Việt gặp khó khăn trong việc tiếp cận điều trị trầm cảm sau khi sinh do thiếu dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, bao gồm rào cản ngôn ngữ và trở ngại tài chính. (Hình minh họa: Claudio Arnese/Getty Images)

Đúc kết từ kinh nghiệm của bản thân, cô Lan khuyến khích những người mẹ nên gặp gỡ các chuyên gia, bác sĩ tư vấn tâm lý, và chia sẻ nhiều hơn với người thân để mọi người cùng hỗ trợ tâm lý.

“Các chuyên gia có chuyên môn có thể giúp cho mình tháo gỡ các nút thắt trong tâm và tạo môi trường cho chúng ta chia sẻ các khúc mắc trong lòng. Sau năm đến sáu tháng điều trị, tôi cảm thấy mình thay đổi và khỏe hơn nhiều,” cô Lan kể. 

Cô Lan còn cho biết, sau khi biết cô bị bệnh, gia đình cũng dành thời gian phụ giúp mẹ con cô, tạo động lực cho cô bước tiếp.

Về phần cô Thiên, cô khuyên phụ nữ nên chuẩn bị tâm lý trước khi sinh con, nói chuyện với gia đình về quan điểm chăm sóc em bé, mở lòng với chồng về các vấn đề tâm lý sau khi sinh để chồng cảm thông và chia sẻ. Người mẹ cũng nên ra ngoài nhiều hơn để tâm trạng thoải mái. 

“Vì không uống được thuốc trầm cảm nên bác sĩ khuyên tôi tập thiền, yoga, và kết quả rất khả quan. Sau thời gian dài tập luyện, tôi thấy đầu óc thông suốt và các triệu chứng chán nản cũng giảm đi nhiều,” cô Thiên chia sẻ.

Sau thời gian dài trị liệu, cô Thiên dần tự tin hơn. Cô đã biết tự lái xe đưa con đi nhà trẻ trước khi lái tới tiệm chăm sóc sắc đẹp do chính cô làm chủ. (Trà Nhiên) [đ.d.]

—–
Liên lạc tác giả: [email protected]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT