BRUSSELS, Bỉ (NV) – Liên Âu phản đối lý do chính quyền Tổng Thống Donald Trump dùng để áp thuế quan mới lên hàng hóa Châu Âu, cho rằng cáo buộc khối này kiểm soát lỏng lẻo hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức không phản ánh hệ thống bảo vệ người lao động của EU.
Chính quyền Trump hôm Thứ Sáu, 24 Tháng Bảy, áp thuế từ 10% đến 12.5% đối với hàng hóa từ 60 đối tác thương mại, trong đó có Liên Âu, theo Reuters.

Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Mỹ, gọi tắt là USTR, nói các nền kinh tế này chưa ban hành hoặc chưa thực thi đầy đủ lệnh cấm nhập cảng hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.
Bà Kaja Kallas, ngoại trưởng Liên Âu, nói Washington không thể dùng lập luận về điều kiện lao động để mô tả EU.
“Nếu so sánh luật lao động của chúng tôi với luật của Mỹ, chúng tôi có kỳ nghỉ được trả lương, chúng tôi có điều kiện lao động rất tốt cho nhân viên, vì vậy lý do đó thực sự không có cơ sở,” bà Kallas nói bên lề hội nghị ASEAN tại Manila, Philippines.
Bà gọi mức thuế mới là một “bất ngờ tiêu cực,” đồng thời nhấn mạnh Liên Âu tuân thủ những cam kết trong thỏa thuận thương mại xuyên Đại Tây Dương đạt được năm ngoái.
“Chúng tôi có một thỏa thuận với Mỹ và chúng tôi giữ đúng phần cam kết của mình,” bà Kallas nói. “Đó là lý do việc thỏa thuận không được tôn trọng trở thành một bất ngờ tiêu cực.”
Tuy nhiên, phản ứng chính thức của Ủy Ban Châu Âu có phần thận trọng hơn. Brussels ghi nhận mức thuế mới không cộng toàn bộ lên thuế suất tối huệ quốc hiện hữu, nhờ đó phần lớn hàng hóa EU vẫn nằm trong giới hạn tổng cộng 15% theo thỏa thuận Mỹ–EU ký năm 2025.
Phát Ngôn Viên Ủy Ban Châu Âu Olof Gill nói kết quả này phù hợp với cam kết thuế quan của Washington. Dù vậy, EU lo ngại các cuộc điều tra tiếp theo của Mỹ về tình trạng sản xuất dư thừa và chính sách định giá dược phẩm có thể khiến tổng thuế vượt quá giới hạn 15%.
Câu nói của bà Kallas đúng khi so sánh quyền lợi căn bản của người lao động trong EU với tiêu chuẩn liên bang tại Mỹ.
Theo luật lao động của Liên Âu, nhân viên được hưởng ít nhất bốn tuần nghỉ phép có lương mỗi năm. Thời gian làm việc trung bình, kể cả giờ phụ trội, không được vượt quá 48 giờ mỗi tuần. Người lao động còn có quyền nghỉ liên tục ít nhất 11 giờ trong mỗi 24 giờ và ít nhất 24 giờ mỗi tuần, ngoài thời gian nghỉ hằng ngày.
Luật liên bang Mỹ không buộc chủ nhân cung cấp kỳ nghỉ, ngày lễ hoặc ngày bệnh có lương. Những quyền lợi này phần lớn tùy thuộc thỏa thuận giữa người lao động với chủ nhân, nghiệp đoàn hoặc luật riêng của từng tiểu bang.
Luật Lao Động Công Bằng Mỹ cũng không đặt giới hạn số giờ một người từ 16 tuổi trở lên có thể làm trong một tuần. Đối với nhân viên thuộc diện được bảo vệ, luật chủ yếu yêu cầu trả ít nhất một lần rưỡi mức lương thông thường khi làm quá 40 giờ mỗi tuần.
Liên Âu còn bảo đảm ít nhất 10 ngày nghỉ có lương cho người cha hoặc người cha/mẹ thứ hai khi trẻ chào đời. Mỗi cha hoặc mẹ có quyền nghỉ nuôi con ít nhất bốn tháng; hai tháng trong số đó không thể chuyển cho người còn lại và phải được bồi hoàn ở mức do từng quốc gia quy định.
Tại Mỹ, Đạo Luật Nghỉ Phép Vì Gia Đình và Y Tế cho phép người đủ điều kiện nghỉ tối đa 12 tuần để sinh con, chăm sóc người thân hoặc điều trị bệnh nghiêm trọng, nhưng luật liên bang chỉ bảo đảm nghỉ không lương. Quyền này cũng không bao phủ mọi người lao động: nhân viên tư phải làm cho chủ nhân đủ lớn, làm việc ít nhất 12 tháng và đạt tối thiểu 1,250 giờ trong năm trước đó.
EU cũng yêu cầu chủ nhân cung cấp sớm bằng văn bản những điều kiện thiết yếu của công việc, giới hạn thời gian thử việc thông thường ở sáu tháng, báo trước lịch làm việc đối với công việc thất thường, ngăn lạm dụng hợp đồng không bảo đảm số giờ và cung cấp miễn phí những chương trình huấn luyện bắt buộc.
Về tiền lương, EU không ấn định một mức lương tối thiểu chung cho toàn khối, nhưng yêu cầu các quốc gia thiết lập phương thức đánh giá mức lương thích hợp, tăng cường thương lượng tập thể và lập kế hoạch mở rộng thương lượng tại nơi tỷ lệ lao động được bao phủ thấp hơn 80%.
Như vậy, nhận xét của bà Kallas về điều kiện lao động có cơ sở rõ ràng là EU đặt ra một nền bảo vệ tối thiểu rộng hơn luật liên bang Mỹ về nghỉ phép, giờ làm việc, nghỉ nuôi con và sự ổn định trong quan hệ lao động.
Tuy nhiên, đây chưa phải câu trả lời hoàn chỉnh đối với lập luận của Washington.
Chính quyền Trump không chính thức cáo buộc các công ty EU bóc lột người lao động Châu Âu. Lý do USTR đưa ra tập trung vào việc EU chưa thực thi đầy đủ lệnh cấm hàng hóa nhập cảng có nguồn gốc từ lao động cưỡng bức tại các quốc gia khác.
Liên Âu thông qua Quy Định Chống Lao Động Cưỡng Bức vào năm 2024, cấm bán tại EU hoặc xuất cảng khỏi EU mọi sản phẩm làm bằng lao động cưỡng bức, bất kể nguồn gốc. Tuy nhiên, quy định này chỉ bắt đầu được thực thi từ ngày 14 Tháng Mười Hai, 2027.
Vì thế, Washington có một điểm thực tế giới hạn: EU có luật, nhưng cơ chế cấm và điều tra toàn diện chưa hoạt động đầy đủ.
Dù vậy, đánh thuế rộng rãi lên hàng hóa Châu Âu không chứng minh từng sản phẩm bị đánh thuế liên quan đến lao động cưỡng bức. Thuế quan trừng phạt cả doanh nghiệp tuân thủ luật, thay vì nhắm vào nhà sản xuất, mặt hàng hoặc chuỗi cung ứng có chứng cứ vi phạm. (MPL)

















































































































































