Chu Dũng Sĩ/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Ông Chung Tử Bửu nhập ngũ ngày 27 Tháng Chín năm 1965, Khóa 65E2 Không Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang. Tháng Mười, 1966, ông được về trình diện Phòng Du Học Tổng Hành Dinh Không Quân ở Tân Sơn Nhứt để đi học lái phi cơ ở Hoa Kỳ, qua các quân trường Lackland Air Force Base ở San Antonio, Texas; Fort Wolters ở Bắc Texas; và Fort Rucker, tiểu bang Alabama. Ra trường cuối Tháng Năm, 1967.

Phục vụ tại Phi Đoàn 213, Không Đoàn 41 Chiến Thuật
Tại Phi Đoàn 213, một buổi tối, anh hoa tiêu chánh của phi công Bửu rủ ông đi chơi, ông thật thà nói, “Thôi ông ơi! Xứ Huế chán thấy bà, chẳng có cái gì hấp dẫn để đi chơi hết. Buổi tối thành phố Huế buồn hiu, biết đi đâu bây giờ. Thôi ngủ cho khỏe để mai đi bay.” Nhưng rồi ông bạn Vũ Ngọc Huyên thấy ông Bửu buồn, cứ rủ rê miết, và nói, “Đi chơi cho khuây khỏa tâm hồn của người chiến sĩ. Tao sẽ giới thiệu mấy đứa con gái Huế cho mầy làm quen.”
Phi Công Chung Tử Bửu gượng gạo đi cho bạn hài lòng, nhưng gặp ai rồi ông cũng thấy chán. Sau bốn ngày, có ba phi hành đoàn khác từ Đà Nẵng ra thay thế. Phi hành đoàn trở về Đà Nẵng, trực bay ra Quảng Ngãi, đi và về trong ngày. Quảng Ngãi mặc dù nhỏ hơn Huế, nhưng có chợ bán gà từ nhà quê mang ra, nào trứng vịt, kẹo gương, mạch nha, nên cũng vui. Ngoài Quảng Ngãi còn có Hội An, Tam Kỳ. Phía Bắc thì có Quảng Trị, Đông Hà, và các quận lỵ của tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị.
Ngày qua ngày, cứ theo lệnh chỉ thị hành quân hay công tác. Cứ bốn ngày công tác thì thay đổi phi hành đoàn. Bốn phi hành đoàn gồm ba chiếc trực thăng H-34 ra yểm trợ cho tiểu khu Thừa Thiên và tiểu khu Quảng Trị. Đến lúc hết hạn công tác biệt phái, thì ba chiếc trực thăng về Đà Nẵng.
Ông Bửu kể tiếp: “Có một hôm lúc đang biệt phái tại Huế, Vũ Ngọc Huyên rủ tôi, ‘Ê, Bửu! Đi theo tao, tao sẽ giới thiệu cho mầy cô này đẹp mà khó tính lắm. Nghe nói mầy tán gái có hạng, mầy thử trổ tài tao coi.’ Tôi hỏi, ’Có xa lắm không?’ Huyên trả lời, ‘Gần lắm, qua bên kia Đập Đá là tới’.”

Từ Câu Lạc Bộ Sĩ Quan qua bên Đập Đá là đường xuống Vĩ Dạ. Ngay đầu bên kia Đập Đá là nhà cô gái. Nghĩa là từ chỗ các phi công ở qua nhà cô gái phía bên kia Đập Đá chỉ khoảng chừng 300 thước. Cô gái ấy có người chị bà con chú bác là vợ của Trung Úy Phan Văn Sanh trong phi đoàn. Ngày cưới của người chị họ, cô đi bên họ nhà gái nên cả phi đoàn đều biết mặt. Nhiều chàng trai bắt đầu theo tán tỉnh, nhưng không ai tán được, vì cô tỏ ra không quan tâm tới lính tàu bay.
Gặp cô gái Huế
Ông Bửu tâm tình: “Bị thằng Huyên khích tướng, tôi cũng muốn xem mặt nàng ra sao. Cô đang nhà của ông bà ngoại. Gia đình cha mẹ cô ở Đà Nẵng, nhưng cô ra Huế để theo học trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Huế. Thường thì cô ở nội trú, thỉnh thoảng mới về nhà thăm ông bà ngoại. Hôm chúng tôi sang thì cô đang có mặt ở nhà. Ông cụ ra mở cửa và mời chúng tôi vào nhà. Đây là một ngoại lệ quá đặc biệt, vì cụ rất khó, không cho chàng trai nào vào nhà tán tỉnh cháu ngoại mình.”
Ông kể thêm: “Cô gái bước ra. Huyên giới thiệu tôi và giới thiệu tên cô gái là Diệp. Tôi quan sát thì thấy nhan sắc tuy khá, nhưng không phải là sắc nước hương trời. Sau khi chào hỏi nhau, thằng Huyên khoe với Diệp là tôi có giọng hát rất hay. Diệp vào trong lấy đàn guitar và một xấp bản nhạc thịnh hành, rồi mời tôi hát. Khoảng chừng một tiếng gặp gỡ và làm quen với cô gái Huế này.”
Sau đó hai phi công Bửu và Huyên từ giã nàng trở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan. Được quen với Diệp trong hoàn cảnh như thế. Khi về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, Huyên hỏi Chung Tử Bửu, “Mầy thấy cô đó thế nào? Chấm điểm được chưa?” Bửu cười nhẹ đáp, “Tao thấy nhan sắc cũng được, nhưng không xuất sắc lắm.” Huyên trả lời, “Coi bộ mầy kén dữ à! Kiếm được người đẹp như vậy là khó lắm đó mầy.”
Sáng hôm sau, hai phi công Bửu và Huyên ngồi trên chiếc xe Dodge 4×4 của quân đội qua phi trường Tây Lộc để trực bay. Bỗng phi công Bửu thấy một cô gái thật đẹp mặc áo dài trắng và áo len đỏ đang đạp xe bên đường. Ông Bửu hỏi, “Ê Huyên! Nàng nào đẹp quá đang cỡi xe đạp trên đường. Mầy biết cô đó không?” Huyên cười nói, “Thì con Diệp hồi hôm chứ ai.” Ông Bửu nói, “Tao thấy hình như không phải cô Diệp hồi hôm.” Huyên hỏi, “Mầy dám cá với tao không? Một bữa ăn nhé. Tối về, tao với mầy chạy qua nhà Diệp, hỏi nàng là biết ngay.” Bửu cười nói, “OK, tao cá liền. Tao chắc chắn nàng này không phải Diệp.”
Chung Tử Bửu kể lại: “Chiều về, sau khi ăn xong, tôi chở thằng Huyên qua nhà Diệp. Vừa vào thì Diệp nói liền, ‘Hồi sạng thậy hai anh ngồi trên xe ‘đột.’ Thằng Huyên cười ngất, vì tôi đã thua cuộc ‘cá’ này. Lúc đó, tôi có dịp nhìn Diệp rõ hơn. Nhìn kỹ thì nàng đẹp thiệt, chỉ tội hơi lùn thôi, còn ngoại hình thì khỏi chê. Từ đó, Diệp thường về nhà ông bà ngoại, và mỗi lần tôi ra Huế thì ghé nhà thăm nàng. Chúng tôi cùng trò chuyện đủ thứ trên trời dưới đất. Tôi không biết rằng, khi con gái Huế bằng lòng tiếp ai thường xuyên thì có nghĩa là nàng đã phải lòng rồi.”
Những chuyến hành quân công tác tại Đà Nẵng
Ông Bửu ngồi suy tư một chút, rồi nói tiếp: “Trong thời gian tôi phục vụ ở Phi Đoàn 213, Không Đoàn 41 Chiến Thuật ở Căn cứ Không quân Đà Nẵng, thường tôi chỉ bay tiếp tế, tải thương, chứ không có chuyến đổ quân nào hết. Nhiều ngày nằm túc trực ở các tiểu khu hoặc ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn chứ không có phi vụ gì. Thường mỗi chuyến bay tiếp tế thì rất bình an, nhưng tải thương thì có nguy cơ bị địch quân bắn trúng, vì phải đáp bốc thương binh nơi đang có giao tranh. Những lần tới các tiền đồn thấy xác địch quân dính trên hàng rào kẽm gai, về không ăn cơm được.”
“Một hôm chạy xe trên đường Phan Thanh Giản, Đà Nẵng, thì thấy tấm bảng Hội Thánh Baptist trước một căn nhà. Tôi ghé lại rồi bước vào. Một phụ nữ người Mỹ bước ra vui vẻ tiếp đón. Tôi đoán bà là vợ của vị giáo sĩ. Sau đó, chồng của bà cũng ra tiếp tôi. Tôi nhận ra ông là Mục sư Myers mà tôi có lần gặp ở Sài Gòn thời còn đi học. Họ rất mừng vì tôi nói tiếng Anh thông thạo và đúng giọng. Từ đó, tôi trở nên thành viên của Hội Thánh Baptist Hy Vọng Đà Nẵng, và rất thân tình với gia đình Mục sư Lewis Myers.”
Vào khoảng cuối Tháng Mời Một, 1967, ông Bửu ngồi hoa tiêu phó cho Trung úy Nguyễn Văn Hiếu, sau này là biệt đội trưởng biệt đội ở Huế. Lần nầy vào trong núi ở phía Tây tải thương cho đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, họ đang hành quân trong vùng núi phía Tây Thừa Thiên. Đây là lần đầu tiên phi công Bửu thấy một hoa tiêu trực thăng rất giỏi. Bởi vì chỗ tải thương không có bãi đáp, máy bay phải hover trên ngọn cây rồi thòng dây xuống để kéo người lên. Đó là lần đầu tiên ông Bửu chứng kiến cảnh thòng dây xuống kéo thương binh.
Tham chiến trận Tết Mậu Thân, 1968 tại Huế
Ban Chỉ Huy Phi Đoàn 213 thấy việc biệt phái ra Huế phải thay đổi phi hành đoàn bốn ngày một lần vừa mất công, vừa bất tiện nhiều mặt. Cho nên Đại Úy “Châu Bụng” đề nghị mỗi lần biệt phái là một tháng. Sau một tháng ai muốn đổi về thì người khác ra thay. Ai muốn ở luôn ngoài Huế càng tốt, và chỉ nhận những người tình nguyện mà thôi. Lúc đó, phi công Bửu thấy đây là cơ hội được thường xuyên gặp nàng Diệp, nên giơ tay tình nguyện liền. Bốn phi hành đoàn có bốn trưởng phi cơ hay hoa tiêu chính, bốn hoa tiêu phó, bốn cơ phi, một y tá phi hành và vài chuyên viên cơ khí. Trung Úy Nguyễn Văn Hiếu làm biệt đội trưởng. Không ai biết trước rằng toán đầu tiên đó sẽ gặp trận Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng tại Huế.

Biệt Đội Trực Thăng 213 biệt phái hẳn ở Huế trú ngụ trong nhà vãng lai cấp tá của Tiểu Khu Thừa Thiên nằm trên đường Duy Tân. Đó là con đường nối cầu Trường Tiền chạy thẳng xuống An Cựu. Trước mặt tòa nhà mà Biệt Đội Trực Thăng 213 đang ở là khách sạn Thuận Hóa, đã được cơ quan MACV (Military Asistance Command Vietnam) của Hoa Kỳ thuê dùng làm bộ chỉ huy phái bộ cố vấn quân sự của họ. Họ giăng hàng rào kẽm gai và chất các thùng “phuy,” vách bao cát rất kiên cố. Phi Đoàn 213 nghĩ rằng đó là nơi an toàn cho biệt đội ở. Chưa tới một tháng từ ngày dọn ra ở hẳn tại Huế, thì Tết Nguyên Đán sắp đến.
Trong thời gian này, Trường Nữ Hộ Sinh nghỉ Tết Mậu Thân, 1968. Nàng Diệp về ăn Tết với gia đình ở Đà Nẵng, nên phi công Chung Tử Bửu không có dịp gặp lại nàng tại Huế.
Trong lúc hành quân tại Huế, ông Bửu kể lại: “Chúng tôi vẫn phải bay trong mấy ngày Tết như thường lệ chứ không được nghỉ. Có một điều tôi rất thắc mắc, đó là dân Huế trong Thành Nội không có thiện cảm với quân đội, nhất là họ thấy những quân nhân Không Quân VNCH thì có thái độ rất lãnh đạm, khác hẳn thái độ của dân Huế ở khu vực chợ Đông Ba trong các dãy phố đường Trần Hưng Đạo, và khu Gia Hội. Người trong Thành Nội có vẻ ghét chúng tôi, gọi là lính Thiệu-Kỳ. Tôi thắc mắc nhưng chưa có cơ hội hỏi.” Ông cho biết thêm: “Sau này tôi mới biết vụ ly khai do Phật Giáo khởi xướng.
Trước Tết Mậu Thân, trong một chuyến bay yểm trợ cho đơn vị Địa Phương Quân ở quận Hương Thủy, hai bên đang bắn nhau kịch liệt, chúng tôi phải đáp xuống để tải thương binh. Đối diện với địch quân là một ụ rơm lớn và cao che khuất cả đầu phi cơ. Lúc đó đuôi của phi cơ ló ra ngoài ụ rơm. Tôi nghe tiếng đạn bắn trúng cái đuôi lổn cổn lảng cảng. Đến khi bay về tới Tây Lộc thì đếm được 18 lỗ lủng. Anh cơ phi chui vào ống thân đuôi thì thấy cái shaft xoay cánh quạt đuôi bị một viên đạn xuyên qua. Cái shaft là một ống nhôm rỗng, mà may mắn nó không gãy trong lúc bay về. Nếu nó bị gãy thì phi cơ sẽ quay mòng mòng rồi rớt thôi. Đó là chuyến bay bị bắn lủng nhiều lỗ đầu tiên của tôi.”
Phi cơ của Phi Đoàn 213 đậu ở phi trường Tây Lộc trong Thành Nội Huế bên tả ngạn Sông Hương. Các phi công và chuyên viên trọ bên hữu ngạn. Trong Thành Nội có Đại Nội là hoàng cung của triều đình nhà Nguyễn khi xưa. Bên hữu ngạn thuộc ngoại thành. Dọc theo hữu ngạn Sông Hương có Viện Đại Học Huế, Đại Học Văn Khoa, và trường Sư Phạm, Bệnh Viện Trung Ương Huế, và Đài Phát Thanh. Lúc đó các quân nhân của Phi Đoàn 213 ở bên hữu ngạn cách cầu Trường Tiền chừng 800m. [dt]
(còn tiếp)























































