Chu Dũng Sĩ/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Cựu Hạ Sĩ Thạch Răng quê Cần Thơ, nhập ngũ Tháng Bảy, 1971 binh chủng Quân Cảnh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Sau hai tháng thụ huấn căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng, Châu Đốc, Tháng Chín, 1971, ông được thụ huấn căn bản ngành Quân Cảnh tại Trung Tâm Huấn Luyện Quân Cảnh, Vũng Tàu. Ra trường cuối năm 1971, được về Đại Đội B3, thuộc Tiểu Đoàn 3 Quân Cảnh Quân Khu III, đóng quân tại Biên Hòa.

Phóng viên nhật báo Người Việt có gặp cựu Quân Cảnh Thạch Răng tại Westminster. Ông kể lại cuộc đời quân ngũ của ông và những thời gian sau 1975, cho đến khi ông gia đình ông được định cư tại Hoa Kỳ.
Phục vụ tại căn cứ Lai Khê
Quân cảnh Thạch Răng cho biết: “Tháng Giêng, 1972, một Trung Đội của Đại Đội B3/ Tiểu Đoàn 3 Quân Cảnh, trong đó có tôi được biệt phái về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (BB). Lúc đó, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng là tư lệnh của sư đoàn này đang đóng quân tại căn cứ Lai Khê. Nhiệm vụ của toán quân cảnh chúng tôi là giữ an ninh cho căn cứ Lai Khê, bao gồm kiểm soát cổng ra vào của căn cứ Lai Khê và Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB.”
Ngày xưa, căn cứ Lai Khê tại ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương, dọc theo Quốc Lộ 13 về phía Tây Bắc thủ đô Sài Gòn, và cách Thủ Dầu Một khoảng 20 cây số về phía Bắc. Từ thập niên 1960-1970, cho đến 1975, căn cứ Lai Khê là nơi đóng quân của Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 BB, cũng là nơi đóng quân của Sư Đoàn 1 BB của Quân Lực Hoa Kỳ đang tham chiến tại Việt Nam.

Ngoài ra, còn có các đơn vị Quân Đội Hoa Kỳ khác đóng tại Lai Khê bao gồm Tiểu Đoàn 121 Truyền tin, Bệnh Viện Phẫu Thuật Số 2; Tiểu Đoàn 2, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, Tiểu Đoàn 5, Sư Đoàn 7 Kỵ Binh, Trung Đoàn 11 Thiết Giáp, Tiểu Đoàn 6 Pháo Binh 15, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh 33 Hoa Kỳ, Đại Đội 173 Trực Thăng Tấn Công của Hoa Kỳ, Tiểu Đoàn 554 Công Binh Hoa Kỳ.
Còn có sự xuất hiện của những đơn vị đặc biệt khác của Quân Đội Hoa Kỳ, như Đại Đội 337 Nghiên Cứu Vô Tuyến; Tiểu Đoàn 303 Nghiên Cứu Vô Tuyến; Liên Đoàn 509 Nghiên Cứu Vô Tuyến (ASA); và Trung Đội 4 Đại đội 45 Quân y (cứu thương trên không – AKA Dustoff), Phi Đội 1, Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh, Binh Đoàn Bravo và Binh Đoàn Echo.
Đến Tháng Mười Hai, 1967, Bệnh Viện Giải Phẫu Số 18 được Quân Đội Hoa Kỳ thành lập, cho đến Tháng Hai, 1968 thì bàn giao lại cho Quân Y/QLVNCH.
Với lực lượng hùng hậu trên, có một số đơn vị của Quân Đội Hoa Kỳ và VNCH hỗ trợ cho sự chiến thắng của Sư Đoàn 5 BB tại An Lộc vào 1972.
Ông Thạch Răng kể: “Hằng ngày, nhiệm vụ của Trung Đội Quân Cảnh chúng tôi là kiểm soát các quân nhân ra vào căn cứ Lai Khê được chặt chẽ hơn, đồng thời toán quân cảnh này cũng phải có trách nhiệm gìn giữ an ninh cho bãi đáp trực thăng của căn cứ Lai Khê để chuyển quân của Sư Đoàn 5 BB vào căn cứ An Lộc. Lúc đó, ban ngày, tôi thường được cấp chỉ huy giao nhiệm vụ kiểm soát tại cổng của Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB.”

Thạch Răng nhớ lại: “Khoảng Tháng Ba, 1972, có một đêm, tại căn cứ Lai Khê bị vài tên đặc công Việt Cộng bò vào căn cứ ngay trung đội quân cảnh. Lúc đó chúng tôi đang giữ an ninh tại Tiểu Đoàn 5 Truyền Tin của Sư Đoàn 5 BB. Đang ngủ thì nghe có tiếng súng nổ, tôi thức dậy liền lấy cây súng M16 chạy ra ngoài thì mới biết là các chiến sĩ của Sư Đoàn 5 BB phát hiện đặc công Việt Cộng đang bò vào căn cứ. Nhưng chúng mới bò đến hàng kẽm gai thứ nhất thì bị quân ta phát hiện và bắn chết đám đặc công này.”
Trận chiến bắt đầu bùng nổ mạnh vào năm 1972
Lúc đó trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa bắt đầu bùng phát. Đồng thời chiến trường An Lộc cũng bắt đầu sôi động vào khoảng Tháng Tư, 1972.
Ông Thạch Răng nói: “Trong lúc đồng bào miền Nam đang còn lo sợ bởi quân Bắc Việt vượt vĩ tuyến 17 từng loạt tấn công vào lãnh thổ miền Nam tại Quảng Trị, thì tại Vùng III Chiến Thuật, cộng sản đã trưng dụng bốn sư đoàn để tấn công tỉnh Bình Long, với mưu toan chiếm tỉnh này để làm bàn đạp tiến quân về Sài Gòn, cách Bình Long chỉ 100 cây số.”
“An Lộc là quận lỵ của Bình Long, trước đó nơi này là một thị trấn nhỏ có tên là Hớn Quản thuộc Thủ Dầu Một. Trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì nhu cầu hành chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm điều chỉnh tỉnh Bình Long gồm có ba quận, đó là Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh. Sau đó, quận Hớn Quản đổi thành quận An Lộc. Trong thời chiến, căn cứ An Lộc nằm trong quận An Lộc, thuộc xã Tân Lập Phú,” ông cho biết thêm.
Tỉnh Bình Long nằm cạnh biên giới Cambodia với diện tích 2,240 km vuông, có trên 76,000 dân. Riêng quận An Lộc rộng khoảng 740 km vuông với khoảng 44,000 dân, đa số tập trung vào xã Tân Lập Phú. Chung quanh tỉnh ly và quận lỵ Bình Long là những đồn điền cao su dày đặc, và cũng có vài ngọn đồi với nhiều cây xanh, gió mát như Đồi Gió, Đồi Đồng Long… được trang bị là những địa điểm quân sự quan trọng để bảo vệ thị trấn An Lộc.
Sáng sớm ngày 5 Tháng Tư, 1972, Bộ Chỉ Huy Chiến Trường của Cộng Sản Bắc Việt đang hiện diện tại Cambodia ra lệnh cho những đoàn quân Bắc Việt đang đóng gần biên giới Việt-Miên tấn công vào Lộc Ninh và An Lộc để án ngữ việc di chuyển quân của Quân Lực VNCH đến bảo vệ Bình Long.

Tham chiến của quân Bắc Việt gồm các Sư Đoàn Công Trường 5, 7, 9 cùng Trung Đoàn 203 Chiến Xa, nhiều Đội Pháo bắn tầm xa 130 ly, các loại phòng không hiện đại để yểm trợ cho đoàn quân Bắc Việt. Có khoảng 40,000 quân Bắc Việt tham dự mặt trận này. Họ từ vùng Lưỡi Câu của Cambodia tiến qua biên giới, xuyên suốt các rừng cao su dày đặc để tiến đến căn cứ An Lộc. Kế hoạch này đã được địch chuẩn bị từ lâu.
Trận chiến Lộc Ninh
Khởi đầu cuộc tiến quân, quân Bắc Việt trưng dụng toàn lực lượng binh của Công Trường 5, bao gồm ba Trung Đoàn 174, 275 và một trung đoàn biệt lập cùng Trung Đoàn Pháo E6 để tấn công vào quận Lộc Ninh, thuộc phía Bắc An Lộc.
Nhưng địch đã đụng độ với sự chống trả mãnh liệt của Chiến Đoàn 9, Quân Lực VNCH, gồm Trung Đoàn 9, thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, 30 Chiến Xa của Thiết Đoàn 5. Lúc bấy giờ, cộng quân bị sự chống trả anh dũng của Biệt Động Quân Biên Phòng cùng các đơn vị địa phương quân và nghĩa quân của Lộc Ninh. Mặc dù quân số của địch gắp ba lần của quân VNCH, nhưng các chiến sĩ Quân Lực VNCH vẫn kiên trì tử thủ. Cuộc chiến xảy ra với nhiều trận đánh cận chiến ‘xáp lá cà’ tại quận Lộc Ninh. Trước chiến thuật dùng biển người của địch, quân phòng trú của Lộc Ninh đã phải hạ nòng súng Đại Bác 105 ly trực xạ vào các đợt tấn công biển người của quân Cộng Sản Bắc Việt.
Ông Thạch Răng nói: “Theo tôi biết, với sự kháng cự mãnh liệt của các chiến sĩ VNCH đang phòng trú tại Lộc Ninh đã anh dũng chiến đấu trước sự tấn công dữ dội của quân Bắc Việt, trận chiến nổ ra suốt ngày, mà địch quân cũng không chiếm được Lộc Ninh. Quân Bắc Việt đành phải rút quân khỏi chiến trường. Sau đó, địch pháo kích hàng trăm quả pháo vào nơi của các chiến sĩ Quân Lực VNCH đang trú quân phòng thủ Lộc Ninh.”
“Theo những chiến sĩ đã tham chiến tại mặt trận này kể lại, trong lúc chiến trường Lộc Ninh đang sôi động, thì đoàn quân Công Trường 9 của Bắc Việt thiện chiến nhất trong bốn sư đoàn đang tham chiến tại Bình Long, đã xuất phát từ biên giới Cambodia,” Thạch Răng cho biết thêm. “Sau đó, cộng quân bất ngờ tấn công vào An Lộc từ 3 giờ trưa ngày 6 Tháng Tư, 1972 để ngăn chặn đường tiếp viện của Quân Lực VNCH cho Lộc Ninh. Vì thế, đoạn đường từ An Lộc đến Lộc Ninh bị địch kiểm soát nên các đoàn quân của Quân Lực VNCH chỉ liên lạc bằng hệ thống truyền tin mà thôi.”
Kế hoạch tiến quân trong trận chiến này là, Công Trường 5 của Bắc Việt quyết lấy cho bằng được Lộc Ninh, rồi sau đó theo Quốc Lộ 13 tiến thẳng công hãm hướng Bắc An Lộc. Trong tình thế nguy ngập này, hai Sư Đoàn của Bắc Việt gồm Công Trường 7 và Công Trường 9 đồng loạt xuất phát từ vùng Lưỡi Câu, Cambodia tiến quân vào hướng Tây của An Lộc, theo kế hoạch là Công Trường 9 đánh thẳng vào An Lộc và Công Trường 7 thì bám chặt Quốc Lộ 13 ở phía Nam An Lộc.
Tại Lộc Ninh lúc bấy giờ, sau ba ngày bị địch nã pháo hàng loạt, đồng thời cũng không được tiếp viện quân đến hỗ trợ, nên quân phòng trú này được lệnh di chuyển dần về hướng Nam, rồi rút quân về An Lộc. Trong lúc chuyển quân, toàn bộ 30 Chiến Xa VNCH có một số đã bị phá hủy và một số vẫn còn hoạt động đành phải bỏ lại khi lui binh.

Thạch Răng kể: “Có nhiều chiến sĩ bị thương từ chiến trường được trực thăng đưa về các bệnh viện dã chiến tại Bình Long và căn cứ Lai Khê kể lại rằng, trước áp lực của quân Bắc Việt từ hướng Bắc càng lúc càng mạnh bạo hơn, nên Chiến Đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 18 BB/QLVNCH từ vùng cầu Cần Lê cũng phải rút quân về An Lộc. Vào ngày 7 Tháng Tư, 1972, quân Bắc Việt phục kích trên đoạn đường này khoảng 3 cây số để tấn công Tiểu Đoàn 1/48 của Chiến Đoàn 52. Nhưng tiểu đoàn này chiến đấu rất anh dũng với địch quân và mở được con đường máu để rút quân về An Lộc, kết quả chỉ có thiệt hại nhẹ.”
Tại chiến trường Lộc Ninh, chỉ trong ba ngày giao tranh, kết quả có 2,150 lính Bắc Việt bị tử trận, đây là số lượng quân số của cấp một trung đoàn. Trong khi đó phía Quân Lực VNCH có khoảng 600 chiến sĩ hy sinh tại chiến trường cùng với 30 chiến xa và một Pháo Đội 105 ly bị mất hay hủy bỏ. Cuộc chiến bắt đầu Tống Lê Chân, Katum và Thiện Ngôn cũng kể từ đó. Căn cứ An Lộc phải kiên trì trong vòng đai tử thủ, mà không có một chiếc Thiết Giáp nào để đối đầu với hàng trăm xe tăng của quân Cộng Sản Bắc Việt. [dt]
(còn tiếp)



























































































