Bằng hữu nhớ Nhà văn Nguyễn Mộng Giác

 




Anh Giác thân quý,


Buổi học đầu tiên của lớp Việt Hán năm thứ nhất ĐHSP Huế niên khóa 1960 – 1961 chỉ có tám sinh viên. Ngồi ở hàng ghế đầu gần hai người bạn cũ đã quen biết trong lớp Dự bị Văn khoa năm học trước, tôi xoay người nhìn năm người bạn mới ở dãy ghế phía sau và bắt gặp nụ cười thân thiện, cởi mở của Anh. Ba năm học chung ở Đại học Sư phạm và Văn khoa Huế, cũng như những lần họp mặt trước và sau năm 1975, dù thời thế và cuộc đời đã có nhiều đổi thay, nụ cười hiền lành ấy vẫn nở trên môi Anh. Sáng ngày 2 tháng 7 năm 2012 vừa qua, tại phố Westminster, quận Cam, bang California nước Mỹ, nụ cười khả ái ấy đã tắt …


Anh Giác thân yêu,


Anh sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940, chỉ trước tôi 12 ngày, nhưng trong học tập và công việc, Anh đã đi trước tôi một đoạn đường dài . Từ năm thứ nhất đến năm thứ ba ĐHSP, và cả trong kỳ thi tốt nghiệp, Anh luôn luôn đứng đầu lớp, còn tôi thì mãi hoài theo sau ở vị trí thứ hai. Kết thúc học trình ba năm, trong khi tôi mới viết xong bản nháp luận văn tốt nghiệp thì Anh đã hoàn thành mỹ mãn luận văn ấy với đề tài Tình và đạo trong thơ Hàn Mặc Tử. Làm đặc san tốt nghiệp Gìn vàng giữ ngọc, tôi góp một bài báo ngắn thì Anh sáng tác hai bài viết dài, rồi âm thầm và công tâm hoàn tất nhiệm vụ của chủ nhiệm, chủ bút kiêm thư ký tòa soạn để báo ra mắt độc giả đúng thời hạn. Từ ngày ra trường cho đến khi nghỉ dạy, hơn 40 năm, tôi chỉ hoạt động trong lãnh vực giáo dục với nhiệm vụ của một thầy giáo đứng lớp. Anh thì trái lại, chỉ trong hơn 10 năm, đã kinh qua nhiều chức vụ như giáo sư Trường Đồng Khánh (Huế), hiệu trưởng Trường Cường Để (Qui Nhơn), chánh Sở giáo dục Bình Định, chuyên viên nghiên cứu của Bộ giáo dục (Sài Gòn)…


(Bài này từ Việt Nam gửi qua Mỹ, được đọc trong tang lễ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác tại Westminster, California, vào ngày 8 tháng 7, 2012)


Hà Thúc Hoan




Hôm qua, tới một cuộc gặp gỡ bè bạn ở Montreal, nghe loáng thoáng thấy vài người nói về hai tập trường thiên “Sông Côn Mùa Lũ” và “Mùa Biển Động”, gia tài quý giá nhất của anh Giác. Họ bàn tán với nhau những gì, tôi không có ý nghe và cũng không có ý tham gia. Tôi bỗng nhớ tới anh Giác, định bụng về nhà sẽ điện thoại với chị Diệu Chi hỏi thăm anh. Ít ngày trước, nhân sắp xếp lại tủ sách trong nhà, tôi bỏ bộ báo Văn Học lên kệ, ngồi giở vài cuốn, bỗng thấy nhớ anh Giác. Ít phút sau, chuông điện thoại reo, chị Diệu Chi bên kia đầu dây. Biết được anh hồi này đã yếu. Biết được anh đã vào nursing home. Biết được gia đình đã sẵn sàng cho tình huống xấu nhất. Qua giọng nói, qua tiếng cười vẫn bám víu suốt cuộc đời làm vợ của chị, tôi đã cảm được sự bình tĩnh và can đảm của chị.






Như một trùng hợp, nói quá một chút, như có sự thần giao cách cảm nào đó, khi tôi xếp lại bộ Văn Học, nhớ tới anh Giác, liền nhận được điện thoại của chị Diệu Chi. Ngày hôm qua, nghe bạn bè nhắc tới những công trình thuộc loại nặng kí của anh Giác, buổi tối, đã lên giường đi ngủ, Luân Hoán điện thoại qua. Anh Giác đã rời nursing home về nhà vào buổi trưa bên Cali. Chắc không còn bao lâu nữa…


Song Thao



 


…Dường như cái chết của văn nghệ sĩ nào mình ít nhiều yêu thích cũng gây bàng hoàng. Có cảm giác như họ chết trẻ. Sáu mươi tuổi: trẻ. Bảy mươi tuổi: trẻ. Tám mươi tuổi, nếu còn viết: vẫn trẻ. Hễ còn cầm bút là còn gợi cảm giác trẻ. Văn chương, đặc biệt văn chương sáng tác, bao giờ cũng gợi ấn tượng trẻ trung và tươi mát. Với những người cầm bút có tài năng, dù họ đã ngưng sáng tác, ấn tượng trẻ trung và tươi mát ấy vẫn còn. Có lẽ nó được nuôi dưỡng từ và bởi tác phẩm của chính họ. Bởi vậy, dù Nguyễn Mộng Giác lâu nay không viết lách gì cả, tôi vẫn sống với tác phẩm của anh, vẫn nghĩ ngợi về những gì anh đã viết, vẫn có cả tưởng anh chưa hề già. Nhìn anh bước đi quặt quẹo trong nhà, vẫn tưởng anh chưa già. Nhìn hàm răng chiếc còn chiếc rụng của anh, vẫn tưởng anh chưa già. Cứ tưởng anh trẻ mãi như tác phẩm của anh. Nên khi nghe tin anh mất, vẫn lặng người. Và bàng hoàng…


Nguyễn Hưng Quốc




Tôi tiếc. Tiếc lắm. Tiếc vì biết rằng mình đã mãi mãi đánh mất một cơ hội quý giá. Là tôi sẽ không bao giờ gặp được ông trong đời. Một người mà tôi trong suốt gần 2 tháng qua luôn tự nhủ thầm là mình sẽ phải gặp. Phải gặp ngay sau khi đọc xong quyển trường thiên tiểu thuyết của ông.


Nó mang tên: ‘Sông Côn Mùa Lũ’.


Và ông là nhà văn Nguyễn Mộng Giác.




Ông vừa qua đời đêm hôm trước ở Cali. Tôi cũng vừa đọc xong quyển ‘Sông Côn Mùa Lũ’ của ông trên đường bay về Mỹ. Thế vậy mà tôi vẫn không gặp được ông. Sẽ không bao giờ có dịp hỏi ông thế ông có nghĩ là nhân vật Nguyễn Huệ mà ông tạo dựng lại trong truyện sẽ xuất hiện một lần nữa hay không ngay trên quê hương mình?




Cũng sẽ không bao giờ tôi còn dịp mang đến tặng ông một giỏ lan rừng như tôi đã tự hứa với lòng. Vì tôi nghĩ là ông sẽ rất thích. Rất thích như nhân vật Lãng ngây thơ, lãng mạn trong truyện đã tìm đến thiên nhiên và những cành hoa lan mỏng manh, hoang dại, khi chinh chiến đã tàn. Lúc anh đã thôi không còn muốn vướng bận vào cõi đời lắm trái ngang, tranh chấp.


Trịnh Hội




…Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định, trong một gia đình gồm 7 anh chị em. Ông là người con thứ hai. Cha ông, một nhà giáo trong thời Pháp thuộc, thưở nhỏ ông cắp sách theo cha đi nhiều nơi vì thời gian đó nhà giáo luôn được thuyên chuyển công tác liên tục. Ông thừa hưởng nếp sống mô phạm từ cha mình.




Nguyễn Mộng Giác tốt nghiệp thủ khoa Trường Đại học sư phạm Huế năm 1963, sau đó được mời làm giáo sư tại trường Nữ trung học Đồng Khánh. Nơi này ông đã gặp và yêu Nguyễn Khoa Diệu Chi một người con gái Huế duyên dáng, nền nã, hết lòng vì chồng con. Chính tình yêu này là chỗ dựa tinh thần giúp ông đứng vững trong những năm tháng nhiễu nhương của đời người…


Ban Mai




…Tôi không quen biết Nguyễn Mộng Giác từ trước. Hoạ chăng chỉ có người bạn lâu năm của tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, (đã giã biệt chúng ta năm hai ngàn lẻ năm vừa qua) là có mối dây liên lạc mật thiết và tình thân đậm đà với Nguyễn Mộng Giác. Nói trộm vía Hoàng Ngọc Tuấn (và cả Nguyễn Mộng Giác, giờ đây) tôi cũng lấy làm lạ là hai người hai cá tính khác biệt mà có thể gần gũi nhau được: Nguyễn Mộng Giác mực thước, thâm trầm trong lúc Hoàng Ngọc Tuấn có phần luông tuồng, buông thả trong giao tiếp. Nguyễn Mộng Giác đã dung chứa Hoàng Ngọc Tuấn một khoảng thời gian khá dài ở Bình Định(?) – theo lời Hoàng Ngọc Tuấn kể – khi bạn ta bị sa cơ (Tuấn đi lính thứ dữ, chịu trận không nổi, tự cho phép mình giải ngũ). Theo tôi, Nguyễn Mộng Giác có lòng lân tài, hết mình thương bạn lúc thất thế, có thể chịu đựng được cái nết bất thường nơi bạn. Cái khó là còn chị Diệu Chi, phu nhân nhà văn Nguyễn Mộng Giác nữa chi?! Một chữ thàng Bình Định rõ nét! Một điểm son cho tình bằng hữu qua thời nhiễu nhương…


Hoàng Xuân Sơn




Người xưa nói “Sống tinh anh, thác tinh anh”. Chúng tôi tin hiện giờ ở cõi linh thiêng nào đó, Văn nhân Nguyễn Mộng Giác đang thong dong trên con Đường Một Chiều để trở về Xuân Huề, Phú Lạc của đất Tây Sơn địa linh nhân kiệt, nơi chôn nhau cắt rún của anh, ung dung nhắp chén trà trưa để lắng nghe Tiếng chim vườn cũ. Bình Định nghèo, Bình định chất phát, nhưng Bình Định dư chân thành, dư hòa ái, dư thiết tha để đón người về sau cuộc hành trình Ngựa Nản Chân Bon.


Thoát cơn Bão Rớt, anh ôm Nỗi Băn khoăn của Kim Dung đi vào trường văn trận bút, Xuôi Dòng nhân thế với nghiệp nhà giáo, nhà văn. Thuở hãnh tiến, anh là Chánh Sở. Vào làng văn, anh đoạt giải một kỳ. Kịp khi đổi đời, Sông Côn Mùa Lũ tràn bờ, anh quyết tâm tách bến, dẫu biết rằng đang Mùa Biển Động, đành gởi thân cho số mệnh rủi may. Anh ra đi, anh quyết ra đi, dầu trong thân quyến có kẻ ngăn, người xúi anh cũng mặc lòng, xem như chuyện Qua Cầu Gió Bay. Nhưng rồi Trời cao thương người chân chính, anh lại gặp vận hên. Thuyền tấp đảo KuKu, anh từng trăn trở qua bao Đêm Hoang với niềm đau, thương nhà nhớ nước. Chuyển đảo Ga-Lăng, nhìn tương lai bấp bênh, trải tháng ngày dằn dặt đợi chờ, lòng anh dạt dào cảm xúc. Từng đêm trên đảo xa, người cẩm bút lại nhớ đến những Bạn Văn Một Thuở…


Hội Ái Hữu Tây Sơn Bình Định











[disqus_shortcode_codeable]

Ông Đặng Văn Phước

Ông Đỗ Văn Khoa

Nha Sĩ Bùi Huy Lân

Cụ Bà Hoàng Thị Diệp

Cụ Ông Nguyễn Thế Thanh

Dược Sĩ Cao Thị Cẩm Nhung

Bà Trần Thị Qui

Cụ Ông Võ Hữu Chánh