
Nhà quàn, nơi Bà còn nán lại những ngày cuối, ngập hoa phúng điếu, người đến viếng không lúc nào ngơi. Con cháu ở khắp nơi tụ về và cả những người không phải thân bằng quyến thuộc cũng đến để gặp Bà lần cuối.
Họ là những người ít nhiều nhận từ Bà những điều tốt đẹp, những giúp đỡ trong lúc khốn cùng. Họ là những người bạn của chồng, của con và đôi khi cũng chỉ là biết nhau sơ sài. Họ cũng là những người gặp Bà trên bước đường đời, nhưng sự ăn ở, cách đối xử của Bà đã là dấu ấn khắc sâu trong họ. Họ là những đứa bé, mà Bà chăm sóc từ thuở nhỏ, nay đã trưởng thành, đến để xin được để tang, để xin được nói vài lời với người mẹ nuôi, đã chăm sóc, ẵm bồng, nâng niu họ như con rứt ruột đẻ ra.
Chẳng phải bỗng dưng mà khi nhắm mắt Bà nhận được những tình cảm của nhiều phía. Đó là kết quả của một đời luôn quan tâm đến người khác, lấy cái vui của người, làm niềm hạnh phúc của mình. Coi cái khổ của người như niềm đau chung của mình. Bà không biết từ chối một ai. Ngay cả khi người ta chưa hỏi xin, Bà đã tự nguyện hiến tặng.

Lúc ở quê nhà cũng như lúc đã rời xa, lòng Bà luôn đau đáu về những cảnh đời cơ cực thiếu thốn. Tháng nào Bà cũng gửi tiền về Việt Nam, chẳng phải chỉ để giúp người máu mủ ruột thịt, mà có khi người đẩu đâu Bà cũng nhớ đến. Khi thì nhờ kiếm cô gái mất trí ở chợ Phú Nhuận để giúp vài bộ áo quần, chút tiền tiêu vặt. Khi thì dặn mang tiền ra xóm Chùa Trần Quang Khải cho những cháu bé mồ côi mồ cút. Khi nghe ai đó sắp đi bới xách cho chồng con đang trong tù cải tạo, thì vội vội vàng vàng mua sắm đủ thứ đồ khô để góp chút phần mình cho người tù ấm lòng. Có những lần đi taxi trên đường phố, thấy người ăn xin, Bà biểu dừng ngay taxi lại để biếu người kia ít tiền. Nếu gia đình có rầy rà sợ Bà bị cướp giựt, Bà gạt đi nói rằng: Người ta cần thì mình giúp.
Người em út, cô Bảy, kể rằng, lúc chị đi định cư ở Mỹ, cô đến nhà, mới thấy trong các ngăn tủ của Bà, cơ man nào là những giấy cám ơn của khắp nơi gửi về, các giấy nhận quà, hàng của các trại mồ côi, người tàn tật… Thế mới biết tấm lòng quảng đại của Bà, và có lẽ điều cao quý hơn cả là tấm lòng đó chẳng bao giờ được Bà nói ra. Bà âm thầm ngày này sang ngày khác, giúp mọi người, không phân biệt thân sơ.

Đối với người ngoài như vậy, thì đối với anh chị em trong nhà biết lấy lời gì kể xiết. Ngày đón được người em gái qua Mỹ, Bà ôm chầm lấy em, giọt ngắn giọt dài: “Bây giở Bảy đã qua Mỹ, chị chết được rồi”, rồi thì mọi lo lắng dồn hết cho cô em chân ướt chân ráo mới đến vùng đất mới.
Bà như người có trăm tay nghìn mắt, nghe ngóng khắp nơi, hầu mong đem tấm lòng trải cho mọi người.
Những ngày cuối đời Bà ao ước: “Ước gì được chết như Má, đau một giờ, chết một giây”. Chúa đã nghe lời khấn nguyện, và đã cho Bà như ý. Chỉ bệnh hai ngày và ra đi trên đôi tay thương mến của người phối ngẫu.
Ngày Bà mất, không chỉ gia đình, thân thuộc đau buồn, mà nơi quê nhà, bà con xóm giềng cũng khóc thương. Họ biết rằng từ nay, họ sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại người ơn từ ái, rộng rãi, chân tình, chu đáo… Suốt 78 năm nơi trần thế, Bà đã làm tốt công việc Chúa giao phó, nay Chúa đón Bà về. Gia đình tuy có buồn đau khi mất một người vợ chung thủy, người Mẹ tốt lành, nhưng gia đình cũng rất vui khi biết rằng từ nay Bà đang hưởng bình an trong tay Thánh Chúa.
tp

