Tạ Quang Hoàng
Em được quen biết Anh khi em thay mặt cho gia đình người em gái ở quê nhà, đứng chủ hôn cho cô cháu đang sống ở Mỹ với vợ chồng em, về làm con dâu thứ trong gia đình Anh Chị, cách đây đã tròn 25 năm.

Nhớ lại ngày hôm ấy thật đặc biệt. Cô cháu cho biết “Họ nhà trai” đi đón dâu sẽ rất đông, khoảng trên 30 người, có cả họ hàng từ nhiều tiểu bang về tham dự. Trong khi bên em vỏn vẹn chỉ có hai vợ chồng không con cái chi. Tuy thế, em lại có nhiều bạn hữu tốt, chơi thân với nhau từ thuở học ĐH ở quê nhà, và lúc sang Mỹ vẫn giữ liên lạc, tháng đôi tháng gặp nhau bù khú giữ tình thân. Khi biết em cần có đông người “Nhóm họ,” các bạn đã hăng hái cùng đến chung tay góp phần. Và thế là buổi lễ Vu Quy của cô cháu chu toàn tốt đẹp.
Đó là lần đầu tiên em gặp Anh và quen biết với gia đình Anh Chị. Và kỳ diệu thay! Cũng chính ngày hôm ấy có hai người bạn học chung lớp cũ thời học ở trường nữ Trưng Vương Sài Gòn vào cuối thập niên 1950 đã nhận ra nhau sau gần nửa thế kỷ xa nhau sau khi tốt nghiệp. Đó là Chị “Nhà Anh” và “Nhà em.” Thế là nhờ duyên cô cháu mà hai gia đình trở nên thân tình hơn.
Ít lâu sau em nghỉ hưu và “chuyển hộ” tù vùng North Hollywood về khu phố Bolsa sống gần đồng hương lúc tuổi già. Và chúng em có nhiều cơ hội hơn để gặp gỡ trò chuyện với Anh Chị qua những buổi họp vui trong gia đình các cháu hay tại nhà Anh Chị. Qua những sinh hoạt gia đình thân tình đó, em đã có cơ hội nghe chính Anh kể lại nhiều biến cố xảy ra xuyên suốt lịch sử trên 20 năm của nền Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam từ 1955 đến ngày mất nước. Anh thật sự là một chứng nhân lịch sử và trong không ít trường hợp, còn có dự phần nữa. Có những điều nếu Anh không kể lại thì chắc chẳng mấy người được biết.
Anh còn kể nhiều chuyện liên quan đến sinh hoạt cộng đồng mà Anh đã có dự phần ngay từ thời mới sang Mỹ định cư tiếp sau biến cố đau buồn mất nước cuối Tháng Tư, 1975. Anh là một trong nhóm người Việt đầu tiên chung nhau từng bước xây dựng Cộng Đồng tại Little Saigon này. Chuyện thì nhiều nhưng có một chi tiết đáng nhớ nhất về Anh. Đó là về danh xưng “Little Saigon.”
Có lẽ trong tiềm thức sâu thẳm của Anh luôn có những kỷ niệm rất tốt đẹp về nước Nhật, nơi mà một phần đời của Anh đã gắn bó, đã cho Anh cơ hội học hỏi những kiến thức tốt nhất cũng như một tinh thần kỷ luật trọng đạo, làm hành trang để giúp đời. Nên chi, trong một buổi họp của “Ủy Ban Xây Dựng Cộng Đồng Miền Nam Cali” năm ấy – mà Anh là một thành viên – khi thảo luận việc chọn một danh xưng cho Cộng Đồng, Anh đã phát biểu đề nghị lấy danh xưng là “Little Saigon,” được gợi ý từ danh xưng “Little Tokyo” của khu phố người Nhật tại Los Angeles. Danh xưng Little Satgon thật dễ thương và dễ nhớ. Và thế là người Việt hải ngoại chúng ta có một “Little Saigon” từ độ ấy và theo thời gian đã trở thành “Tiểu Thủ Đô” của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.
Trước khi có dịch COVID 19 khá lâu, Anh quyết định “nghỉ hưu,” không tham dự vào các sinh hoạt của Cộng đồng nữa, khi đã bước vào tuổi 84-85. Anh muốn có nhiều thời gian hơn dành cho gia đình và bồi dưỡng về Đạo hạnh cho bản thân. Anh cũng muốn có thêm những khoảnh khắc dành cho trầm tư. tĩnh lặng tìm nguồn cảm hứng trước khi viết, hay ghi lại “Những Mảnh Vụn Của Cuộc Đời” (!), mà với Anh thì cần phải có bao nhiêu “mảnh vụn” để phủ đầy bức tranh cuộc đời trải dài hơn 90 năm của Anh?
Có một điều đặc biệt là cho dù bận rộn công việc đến đâu, Anh vẫn luôn dành thì giờ cùng Chị qua viếng thăm nước Nhật, nếu không được mỗi năm thì cũng phải là năm sau đó, vào dịp hoa anh đào nở. Hẳn là Anh Chị có rất nhiều kỷ niệm rất đẹp của riêng mình về đất nước Phù Tang, nơi đã một thời cho Anh cơ hội học hỏi và tiếp nhận những kiến thức tốt nhất và bồi dưỡng bản thân tinh thần trọng đạo để sau đó về giúp nước. Đó cũng là nơi đã từng cưu mang gia đình Anh Chị mỗi khi Anh phải đối diện với nhiều hiểm nguy, thách thức trong khi thi hành công việc và Anh cần sự an toàn cho người thân.
Từ ngày nghỉ hưu Anh cũng giới hạn tối đa việc tiếp khách. Thế nhưng em may mắn được nằm trong nhóm người “được loại trừ.” Có lẽ ngoài mối liên hệ gia đình “hờ” qua cô cháu, em “hạp tuổi” với Anh thì phải. Anh và em cùng một con tuổi, chỉ cách nhau một giáp. Nên trong những năm về sau này, trong giao tiếp em luôn “xưng em” với Anh và Anh mặc nhiên chấp nhận. Nhờ nằm trong danh sách “được loại trừ” nên kể từ ngày Anh nghỉ hưu, em lại thường được Anh cho phép đến nhà. Mỗi lần đến thường là từ 10 giờ sáng nhưng lúc bước chân ra khỏi cửa thường là mặt trời đã xế bóng. Có hôm còn được cả ăn trưa.
Và em đã được nghe Anh kể đủ mọi thứ chuyện, thuộc nhiều thời kỳ khác nhau. Anh cũng cho em mang tài liệu về nhà đọc trong đó có tập hồi ký của Cụ thân sinh của Anh ghi lại những sự kiện xảy ra thời Cụ tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp ở mặt trận Lào-Thái. Anh còn kể về Ông Nội của Anh là một người từng theo phong trào Cần Vương và sau đó phải sống lưu vong tại Lào và Thái Lan để tránh sự truy sát của thực dân Pháp. Chính vì những hoạt động cách mạng của Ông Nội và người Bố nên Anh sinh ra trên đất nước Lào. Nhưng đến khi “đủ tuổi lớn,” Anh được người Bố đưa về Hà Nội gởi học nội trú ở Trường các Soeurs. Có lúc em đã nghe Anh nói về Kinh Thánh và đọc các “Kinh Lạy Cha,” “Kinh Kính Mừng” bằng tiếng Pháp rõ ràng và chính xác… Anh có một trí nhớ tuyệt hảo.
Em càng ngưỡng mộ Anh hơn khi nghe Anh kể về những năm đầu đời của mình. Anh kể: Đang theo học ở Nhà Dòng các Soeurs thì năm 1943, Bố Anh từ trong Nam trở về bảo Anh thu xếp chuẩn bị xuất ngoại du học tại Nhật… Rồi lúc ở sân bay Tân Sơn Nhất, trước khi theo một người Nhật bạn của Bố bước lên máy bay, Bố Anh đã nói một câu: “Hãy cố gắng học thành tài mai này về giúp nước.” Ở tuổi 16 vào thời ấy nào đã hiểu biết gì, nhưng nghe người Bố bảo thì chỉ biết “Vâng” và ghi nhớ trong lòng.
Đến khi qua Nhật, mọi sự đều khác lạ, từ cách sống, cách suy nghĩ, sự giao tế,… hoàn toàn khác với những gì Anh đã tiếp nhận từ văn hóa Pháp trước đó. Và rồi Anh bắt đầu học tập với nền văn hóa mới và từng bước trưởng thành theo cách nghĩ, cách hành động, và phương thế giao tiếp với xã hội. Anh đã học hỏi được những kiến thức tinh hoa nhất của Nhật và nhất là tính khiêm nhu và kỷ luật của người dân Nhật.
Sau thế chiến thứ II, Anh may mắn được làm việc với quân đội Mỹ trong chương trình tái thiết nước Nhật. Một lần nữa Anh học hỏi được nhiều về cách nghĩ, cách hành động, và sự giao tế của người Mỹ. Giữa hai nền văn hóa Mỹ và Nhật có những điểm tương đồng và đầy sáng tạo. Thời gian này Anh vẫn dành thì giờ để theo học và hoàn tất, tốt nghiệp Trường Đại Học Jochi Daigaku, tức Sophia University of Tokyo. Thời gian tiếp theo, nhờ sự giới thiệu các cấp trên và nhiều bậc trưởng thượng khác, Anh đã có cơ hội hoạt động trong lãnh vực truyền thông, qua các kênh truyền hình lớn của Nhật.
Thế rồi, vào một ngày của năm 1955, Anh nhận được lời nhắn của người Bố :”Đã đến lúc con trở về giúp nước.” Ngày giã từ quê hương vừa tròn 16 tuổi, chưa có nhận thức rõ ràng nào về việc “giúp nước” chỉ biết nhớ lời Bố dặn lo học hành. Nay đã bước vào tuổi 28, lời Bố gọi về “để giúp nước” Anh đã hiểu và Anh rất tự tin về những gì mình đã học hỏi được cũng như những kinh nghiệm thu góp được qua những năm tháng sống và làm việc với người Mỹ và người Nhật – những dân tộc thông minh, tiến bộ nhất thế giới – để góp phần vào việc “giúp nước.”
Vừa về nước là Anh bắt tay vào việc ngay. Áp dụng tính thực tiễn của người Mỹ và óc tinh tế sáng tạo của người Nhật, Anh đã sử dụng tiền viện trợ Mỹ một cách có hiệu quả để xây dựng những cơ sở công nghiệp đơn giản tại các vùng địa phương có đông dân, nhất là tại các khu định cư của người Bắc vừa di cư vào Nam theo HĐ Genève 1954. Theo thời gian, khi trình độ dân trí tiến bộ hơn, kinh tế phát triển hơn, Chương trình Anh phụ trách đã cho xây dựng các nhà máy lớn hơn, sử dụng hàng ngàn công nhân, và cứ thế tiếp tục…
Về việc này Anh có kể cho nghe một câu chuyện vui. Số là có lần tại một nhà máy phát điện ở Lâm Đồng do chương trình Anh phụ trách thiết kế, Anh đã có cơ hội tiếp đón Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn gồm Phó Tổng Thống và nhiều Bộ trưởng đang đi kinh lý, và đã được ngợi khen. Ngay sau đó, quay qua phía Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ chỉ thị làm giấy khen thưởng và “tăng lương” (Tổng Thống không biết Anh làm việc cho một cơ quan Mỹ và hưởng lương theo quy chế riêng, nhiều hơn nhiều)…
Để nhớ về Anh thì còn biết bao điều để viết. Điều nào kể ra cũng thể hiện được những nét đẹp về Anh trong cách sống sao cho hữu ích cho cuộc đời và có trách nhiệm với gia đình của mình. Với em, Anh có thể được xem là một người công chính.
Em xin mượn một đoạn văn trong bài chia sẻ của các người con Anh đọc vào hôm tổ chức lễ tưởng niệm tiễn đưa Anh để kết thúc bài viết này:
“Bố của chúng tôi là như vậy đó. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và vì nước. Ông đã cống hiến cả cuộc đời cho Tổ Quốc Việt Nam và cũng là người hết mực yêu thương và sống có trách nhiệm với gia đình của mình.
“Bố chúng tôi đã ra đi, nhưng Ông đã để lại cho các con cháu của mình những giá trị rất quý giá. Đó là lòng thương yêu, sự tử tế, khiêm cung mà Ông đã dạy không phải chỉ qua lời nói mà còn bằng những việc làm của mình.
“Chúng tôi sẽ trân trọng gìn giữ những tấm thiệp mà Ông tự thiết kế cho mỗi đứa cháu vào dịp sinh nhật, hay những tấm thiệp vào dịp Lễ cuối năm Ông dành tặng cho các con, cho dâu, cho rể, và đặc biệt là những nét chữ run run Ông ráng viết khi tay đã suy yếu…
“Sẽ nhớ Bố rất nhiều Bố ơi!”
Chúng em nhớ về Anh và thương kính Anh rất nhiều.
Little Saigon, Tháng 10.2024
Tạ Quang Hoàng
____________
- Giáo sư TRẦN ĐỨC THANH PHONG sinh năm, mất Ngày 2.8.2024 vì tuổi già. Tang lễ và Lễ Tưởng niệm ngày 31.8 & 1.9.2024 tại Peek Family, Little Saigon, CA.

