Đặng Phú Phong
Từ hôm nhà văn Huy Phương qua đời (25 Tháng Hai, 2022), trên khắp mặt báo hải ngoại đều có đăng tin và những bài viết về ông, một nhà văn nhà báo, một người thầy giáo cũng như một sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

Và, ngay khi ông còn hiện diện trong cuộc sống đang say sưa trong công việc báo chí, văn chương thì nhiều người bạn của ông đã thành danh trong văn chương báo chí cũng đã viết về ông, cũng như trong số báo đặc biệt về Huy Phương do báo Người Việt-tờ báo mà ông cộng tác khá lâu, chủ trương sẽ có nhiều bài viết tưởng nhớ, xây dựng một hình tượng Huy Phương trong ký ức mỗi người.
Dù mỗi bài viết có khác nhau, nhưng chúng ta cũng có thấy điểm giống nhau mà họ cùng nhìn Huy Phương là một người yêu tự do và quê hương dân tộc.
Sự ra đi định cư ở Mỹ của Huy Phương Lê Nghiêm Kính là việc vừa bất đắc dĩ và cũng vừa là một cơ hội ngàn vàng cho gia đình ông.
Trong bài báo Giấc Mơ Mỹ, Huy Phương viết: ‘‘Những nhà khai quốc Hoa Kỳ đã dùng thành ngữ ‘cuộc sống, tự do, và sự mưu cầu hạnh phúc.’ Di dân có nhiều cơ hội để đạt được sự thành công về mặt vật chất lớn lao hơn là có thể có được tại quốc gia gốc gác của mình.’’
Ông nói rõ hơn về quan điểm cách tiếp nhận “xứ thiên đường này: “Xin hãy đến đây “những kẻ mệt mỏi, nghèo đói,” “những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố” như những lời thơ của thi sĩ Emma Lazarus khắc dưới chân Nữ Thần Tự Do bên bờ biển New York.
Nước Mỹ có thể gọi là Thiên Đường, nhưng là một chốn Thiên Đường cần lao và trí tuệ, là đất cơ hội của nỗ lực, chứ không phải cơ hội của băng đảng, mánh mung.
Từ quan niệm này, ông đã hướng dẫn, giáo dục những người con của mình trở thành hữu ích cho cả hai quê hương của họ.
Huy Phương biết rõ là mình là kẻ bại trận, ngậm ngùi thương tiếc thời gian mình phục vụ trong quân đội, mà ông cho đó là một chính nghĩa và hãnh diện với điều đó.
Ông sống suốt một cuộc đời từ sau thất thủ 75 đến giờ phút cuối, trong nỗi đau của người thua trận. Một cuộc đời buồn tủi và ân hận. Huy Phương viết trong tha phương cầu thực: “Không ai hãnh diện phải bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả tổ tiên để di cư sang xứ khác vì cơm áo.”
Ông ý thức mình chẳng công lao hạn mã đối với non sông, nếu không muốn nói là “Tôi làm tôi mất nước” như nhà văn Lê Văn Phúc đã viết. Nghĩ như vậy, nên ông không giống như một số cựu quân nhân mong muốn được phủ cờ khi qua đời.
Ông trối lại, khi chết không được phủ cờ trên quan tài của ông trong bài thơ “Chúc Thư,” trong tập thơ “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già.”
… Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc
“Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiếm hạm ra khơi.”
Như chưa thấy đủ mạnh cho ước nguyện, ông nói thẳng với phóng viên lúc phỏng vấn ông:
“Tôi đã căn dặn gia đình rất rõ ràng là tôi chỉ là người lính chết già, tôi không muốn được phủ cờ. Bao nhiêu người lính xứng đáng hơn tôi mà một đám tang, thậm chí một nén nhang còn không có thì tại sao tôi lại được phủ cờ?”
Định cư ở Mỹ, ông tận dụng hết khả năng, thì giờ cho sinh hoạt văn học, viết báo, cộng tác với nhiều đài truyền hình tiếng Việt.
Bạn bè của ông trong giới văn nghệ sĩ rất đông, tôi là một trong những người ấy, tuy không quá thân tình nhưng cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Người bạn chung của chúng tôi là Bác Sĩ Tr., một bác sĩ xứng đáng với câu “Lương y như từ mẫu.” Ông ta đã từng chịu thương khó, là bác sĩ duy nhất cuối cùng ở lại phục vụ cho thương bệnh binh tại Quy Nhơn cho đến khi Việt Cộng vào chiếm thành phố.
Sau đó anh bị đi cải tạo. Trong thời gian này, anh nổi tiếng thương yêu, chăm sóc cho bệnh nhân trong trại, anh chia sẻ cả khẩu phần ăn và đồ thăm nuôi của mình cho những người tù không được gia đình tiếp tế.
Sau khi ra trại, vị bác sĩ này vượt biên. Trên con tàu, ông ta đã làm nhiều điều can đảm giúp thuyền nhân kể cả người đã chết. Huy Phương rất cảm phục nghĩa cử của vị bác sĩ này, nên cứ luôn luôn thôi thúc ông ta hãy viết hồi ký. Cuối cùng, nhờ Huy Phương hết lòng khuyến khích, giúp đỡ bác sĩ Tr. cho ra đời tác phẩm hồi ký của mình.
Huy Phương làm trưởng ban tổ chúc, bảo tôi phải phụ trách phần giới thiệu phần tiểu sử của bác sĩ Tr. vì tôi là người ở chung trại cải tạo với ông ta và hơn thế nữa, tôi là người được ông chữa lành căn bệnh thương hàn-một cơn bệnh vô cùng ngặt nghèo, nhất trong vùng sơn lam chướng khí của trại nằm trong rừng sâu.
Vì ngày ra mắt còn hơn hai tháng (năm 2014) nên tôi đi Việt Nam. Ngày về sẽ trước ngày ra mắt chừng ba ngày.
Xui cho tôi là đã bị Công An CSVN giữ lại khi sắp lên máy bay về Mỹ. Vì họ chỉ đưa vào đồn công an để “làm việc” và xong giờ hành chánh thì cho về, hẹn ngày mai trở lại.
Tối về khách sạn, tôi email cho Huy Phương mục đích chỉ để báo cho ông biết tôi chưa thể về được, nên đừng trách và anh tìm người thay thế tôi ngày hôm ấy.
Không ngờ Huy Phương lại báo tin cho báo Người Việt đăng ngay tin và tìm cách vận động để tôi được thả (vì ông nghĩ rằng Công An CSVN đã bắt giam tôi).
Vài hôm sau, họ trả lại Passport cho tôi và cho tôi ra khỏi nước chứ không bắt giữ. Tôi về, gặp ông đầu tiên, mừng rỡ và cảm động, tôi cảm ơn Huy Phương, ông ta cười thật tươi nói lớn, cảm ơn cái chi, mai đi làm tô phở là huề. Dứt khoát nhưng đầy tình cảm. Huy Phương là thế.
Trong số 12 tác phẩm vừa thơ, truyện và tạp ghi tôi đồ rằng những cuốn tạp ghi của ông là hay nhất, được nhiều người yêu thích hơn cả. Với cú pháp trong sáng, sử dụng từ ngữ hợp và chắc nên câu văn dễ hiểu cũng như có chủ ý rõ ràng, giúp độc giả xem sách rất thoải mái.
Trong những năm cuối đời, Huy Phương vẫn bình tĩnh đón nhận bệnh tật, thoải mái tiếp bạn bè đến thăm không thấy ông tỏ chút sợ hãi.
Ông viết: “Có những thứ đã chết mà người ta tôn vinh, xây lăng cho nó, nó vẫn chết. Nhưng, có những thứ người ta muốn chôn vùi, hủy bỏ, nó vẫn đội mồ sống dậy.” (Ga Cuối Đường Tàu).

