Trần Gia Ninh
Trung Thu, trăng dù có tròn thì mùa Thu sang lá vẫn rụng. Quy luật sinh lão bệnh tử khiến ai cũng phải trải qua. Biết là thế, nhưng không thể nào hết buồn khi người anh ruột của mình vừa ra đi vĩnh viễn vào ngày Trung Thu, sau nhiều năm chịu đựng sự đau đớn hành hạ, dày vò của bệnh tật tuổi già.

Mẹ tôi sinh được năm người, nuôi được bốn, sau chị cả năm nay đã xấp xỉ 90 là đến anh Nam, kém chị sáu, 7 tuổi. Tôi kém anh gần 4 tuổi và hơn cậu em út 4 tuổi. Chúng tôi người miền núi, ai đã vượt qua được ốm đau bệnh tật tuổi trẻ, hoặc bom đạn chiến tranh, đấu đá CCRD thì thường rất thọ và khỏe mạnh. Các cô chú bác của tôi đều sống xấp xỉ trăm tuổi , có người hơn 90 vẫn đi rừng, cày ruộng.
Ba anh em chúng tôi từ nhỏ vốn đã là những tay thợ lành nghề, nhưng người lành nghề nhất, có “bàn tay vàng” là anh tôi. Thừa hưởng sự khéo tay của ông ngoại vốn là một nghệ sĩ khắc tranh gỗ mỹ thuật, anh tôi từ nhỏ đã khắc những con dấu củ khoai in các đồng bạc Đông Dương để chơi. Năm 46, Pháp đánh chiếm Đà Lạt, cha tôi ở lại miền Nam chiến đấu, mấy mẹ con cuối năm đó chạy về được đến quê nội dưới chân núi Giăng Màn bên bờ sông Ngàn Sâu, lần hồi nuôi nhau.
Những năm ở quê, anh luôn là thần tượng của tuổi thơ tôi. Nhiệm vụ của tôi từ lúc bảy, tám tuổi là đánh đủ số suốt cho chị và mẹ dệt vải một ngày, xong việc đó là được chơi. Anh tôi thì lo những chuyện kỹ thuật hơn như ươm tơ, kéo cún bông, nhuộm hồ vải. Tôi theo anh vào rừng lấy củi, bắt ếch câu cá, trồng rau…Thú vui nhất là học đàn, đọc sách. Vì mẹ tôi mời thầy dạy nhạc là các thầy giáo từ Huế tản cư và nhà tôi có cả một tủ sách báo lớn của ông nội và các chú tôi đi học ở Hà Nội mang về. Anh tôi thì học được đàn còn tôi thì không.
Thuở nhỏ tôi là đứa trẻ lanh lợi nhưng học dốt, chữ như mèo quào, suốt ngày bị mắng. Tôi nhớ là lúc đó ức vì bị chê, tôi lấy vở của anh ra rồi tự bắt chước theo chữ của anh, vốn rất đẹp, cuối cùng khi sang Trung Hoa học thì chữ của tôi đã có thứ hạng cao trong lớp. Cuộc sống tuổi thơ vất vả nhưng đầm ấm vui vẻ của anh em tôi kể từ khi tôi hiểu biết chỉ kéo dài bốn, năm năm. Tôi rời nhà năm 11 tuổi. Chị tôi hai năm sau ra Việt Bắc kháng chiến. Năm 1954 hai tháng trước ngừng bắn mẹ trúng bom Pháp, bị thương nặng, anh tôi 15 tuổi thuê thuyền xuôi sông Ngàn Sâu chở mẹ đi cấp cứu, nhưng mẹ chết trên thuyền, một mình anh lạy lục nhà thuyền xin đừng thả xác mẹ xuống sông, đưa được mẹ lên bờ chôn gần quê ngoại. Rồi dắt cậu em út bảy tuổi, suốt ngày khóc bắt đền anh “trả mẹ cho em” đi sống nương nhờ bà con họ hàng.
Hòa bình lập lại, ông nội, ông ngoại đều bị hại chết trong đấu tố cải cách ruộng đất, nhà cửa bị tước đoạt, không nơi về nữa, hai anh em nương nhờ nhà bà dì em ruột mẹ. Gia đình bà dì cũng nuôi đàn con bốn đứa lít nhít rất nghèo khổ. Anh tôi chằm nón lá bán kiếm ăn. Năm đó Đức Thọ Hà Tĩnh lụt lớn vỡ đê Trung Lương, người chết đói la liệt, hai anh em đói gần chết, ăn rau má, rau tàu bay xanh lè cả da thịt. May sao bố từ chiến trường Thượng Lào về cứu kịp đưa về đơn vị, nay đã chuyển đến Vinh, không thì chắc cả hai đã chết đói.
Anh tôi sau hai năm bỏ học, tiếp tục đươc đi học lại, hơn tôi gần bốn tuổi nhưng chỉ trên tôi một lớp. Cậu em được chính phủ gửi sang Tiệp luc 11 tuổi. Anh tôi ở lại Vinh học cho xong lớp Chín rồi ra học lớp Mười trường Chu Văn An. Những chuyện này anh vừa khóc vừa kể cho tôi nghe khi năm 58, tôi từ Trung Hoa về nước học tiếp một học kỳ lớp Tám.
Nghỉ Hè, tôi về Vinh rồi cùng anh về lại Gia Phố bên sông Ngàn Sâu. Hai anh em tôi khăn gói đi bộ hai ngày đêm, băng rừng tìm đến được nơi chôn cất mẹ năm xưa. Tấm mộ chí bằng gỗ anh tôi khắc tạm lúc chôn vẫn còn. Tôi nghe nói rằng người mẹ không gặp con khi tắt thở thì khi người con có mặt lúc cải táng mẹ sẽ hiện về cho con nhìn mặt trong chớp mắt. Tôi hồi hộp mong chờ được thấy lại bóng hình mẹ năm xưa.
Than ôi, chỉ thêm đau lòng nhìn những hài cốt, bọc trong áo quần mục nát tả tơi, duy chỉ mái tóc dài là còn nguyên vẹn. Tôi chưa kịp lau nước mắt thì anh tôi đã nhảy xuống huyệt mộ, lần tìm không để sót một mẩu xương nhỏ nhất nào của mẹ. Anh em chúng tôi lại thay nhau gánh hài cốt mẹ, xuyên rừng cắt lối đi suốt hai ngày đêm, không dám nghỉ ở gần nhà dân nào, đưa được mẹ về quê nội. Khi để hài cốt mẹ xuống, anh tôi còn giở trong túi ra một gói có đựng một hộp kim loại nhỏ. Mở hộp ra, bên trong đựng hai vỏ ống thuốc thủy tinh.
Vừa khóc, anh vừa bảo tôi: “Đây là vỏ hai ống thuốc Huile de Camphre (dầu long não, thuốc trợ tim thông dụng thời đó) cuối cùng mà y tá tiêm cho mẹ hồi tỉnh khi đưa đi cấp cứu.” Thế là mẹ được an nghỉ trên một ngọn đồi lộng gió, phía xa xa là một ngôi chùa nhỏ thanh vắng.

Sau khi tốt nghiệp xuất sắc Đại Học Bách khoa, trở thành kỹ sư Điện Tử -Vô Tuyến Ðiên. Năm 1962, anh làm việc cho ngành Bưu Điện Truyền Thanh, tham gia ngay vào xây dựng những công trình trọng điểm thời chiến: lắp đặt thông tin liên lạc cho sân bay Nội Bài đang xây dựng, kỹ sư của đài phát tín Trung ương Đại Mỗ, duy trì cho Tiếng nói Việt Nam không bị gián đoạn trong chiến tranh.
Từ năm 69 anh được cử sang Cộng Hòa Dân Chủ Đức làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật ILMENAU, với khả năng sẵn có anh dễ dàng được trao bằng tiến sĩ . Khi anh sang Đức thì tôi đã chuẩn bị về nước. Hai anh em gặp nhau ở Đức. Tuy ở hai nơi cách nhau 600km, nhưng những lúc rảnh rỗi anh thường lên Berlin chơi và thảo luận chuyên môn với nhau , thật là một thời đáng nhớ, tuy ngắn ngủi. Về lại trường Đại Học Bưu Điện tiếp tục giảng dạy, Tiên Sĩ Trần Xuân Nam được đề bạt làm trưởng Khoa Vô Tuyến- Điện Tử gần chục năm.
Anh vốn là một nhà chuyên môn giỏi. Tuy bằng cấp của anh dưới tôi nhưng tôi luôn tôn anh làm sư phụ. Là một người thợ chuyên môn tay nghề cao, một kỹ sư toàn năng, một nhà khoa học thực tài, anh làm việc chỉn chu, hoàn hảo với tác phong người Đức. Dấu ấn buồn khổ tuổi thơ in đậm, anh sống thầm lặng, khắc khổ, ít khi cười. Anh thành thạo tiếng Pháp, Đức, Anh ,Trung, Nga. Chỉ biết làm việc và đòi hỏi người khác cũng phải làm việc nghiêm chỉnh. Với tính cách như thế, cộng với tính khí khái ,cực đoan của người xứ Nghệ, anh khó mà hòa nhập với cuộc đời đầy lắt léo, với môi trường chính trị dốt nát, vụ lợi, đố kỵ tài năng…
Chán nản, anh xin về hưu ngay khi đủ hạn tuổi để được hưởng lương hưu, dù lúc đó mới chẵn 55 tuổi. Làm người tự do, ngoài việc lo cơm áo gạo tiền thì anh dồn tâm sức cho thú vui thẩm âm và kỹ thuật âm thanh cao cấp. Anh vui thú cùng cậu em họ nhạc sĩ vùi đầu vào việc chế tạo những amply , dàn loa siêu cao cấp, và không bao giờ nghe nhạc với các thiết bị thương mại. Từ micro đến amply, giây dẫn, dàn loa anh đều tự tay chế tạo cho riêng mình, chất lượng âm thanh thật hoàn hảo, và nói chuyện về thẩm âm, về tần số, kỹ thuật âm thanh Hi-Fi với anh thì khó mà dứt ra đươc. Thật đúng là một đam mê tao nhã cao cấp…
Thế rồi khoảng bốn năm trước, anh bỗng gọi tôi đến bảo: “Anh sẽ bán hoặc cho hết các bộ thiết bị kỹ thuật âm thanh, nhạc cụ …nếu tìm được người tri kỷ hiểu biết …”
Tưởng anh nói nói đùa, mà hóa ra sau đó anh làm thật. Một điều gì đó đang xảy ra trong tâm khảm của anh mà anh đã tự nhìn thấy trước, người thân đến như tôi cũng không biết được. Thời gian trôi đi, anh dần dần trở nên trầm cảm, từ từ nhưng có thể nhận thấy ngày càng tăng…và dần dần dấu hiệu Alzheimer xuất hiện, từ không làm chủ được một vài hành động cho đến lúc nặng dần khi không nhận biết được thế giới xung quanh, dù không hề đột quỵ. Nhìn anh nằm một chỗ như vô tri vô giác thật không thể cầm lòng được…
Rồi sáng ngày Trung Thu 21 Tháng Chín, 2021 anh lặng lẽ ra đi như ngọn đèn hết dầu, như lá vàng rơi nhẹ nhàng khi làn gió thu thoảng qua, trong vòng tay yêu thương của vợ con, gia đình…
Ôi, Tiến Sĩ Trần Xuân Nam, một con người tài hoa, không gặp thời, cũng không hợp người…
Vĩnh biệt anh, người anh ruột yêu thương và quý mến của em ! Anh đã đi xa để về cùng cha mẹ, ông bà. Lá rụng mùa thu, âu là một lẽ đương nhiên của cuộc đời, nhưng không dừng được nước mắt buồn thương của chia ly vĩnh viễn.
Cầu cho linh hồn Anh được siêu thoát nơi ngàn thu cực lạc.
***
Bài vở và thư từ liên quan trang Tưởng Nhớ, xin gửi về: [email protected]

