Năng Nguyễn
“Láng giềng một áng mây trắng/Khách khứa hai rặng núi xanh” (Nguyễn Trãi – Ức Trai Thi Tập). Cụ Nguyễn Trãi khi cáo lão từ quan về dãy Côn Sơn ở Chí Linh, Hải Dương, dựng một gian nhà cỏ bên sườn núi. Sáng lên đỉnh đánh cờ với tiên, chiều ung dung xuống suối tắm táp nên mới có thể phóng bút hạ hai câu thơ thấm đẫm sự cô độc nhưng tự tại đến vậy.

Vì mê thơ của cụ mà lúc nhỏ, tôi đã cố công tìm hiểu xem họ Nguyễn nhà mình có “dây mơ rễ má” gì đến cụ không? Kiểu như thấy người sang bắt quàng làm họ ấy mà. Tiếc thay, từ Hải Dương về đến Ninh Bình có vẻ hơi xa…
Bù lại, khi đã lớn, nhân một chuyến đi công tác ở khu mỏ than Quảng Ninh, tôi đã có dịp ghé vào Côn Sơn thăm dãy núi Ngũ Nhạc, lướt nhanh khu đền mới xây dựng còn thơm mùi vôi vữa thờ quan Nhập Nội Hành Khiển và men theo đường dốc đầy cỏ lau, cỏ tranh để đứng tần ngần trên thềm nhà nhỏ bằng đất nện – nơi đã từng có căn lều cỏ của cụ.
Cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu tá? Chỉ còn sót lại một bụi chuối còi cọc phía sau nhà đứng chơ vơ dãi dầu và tự ngâm nga một bài thơ mà cụ đã sáng tác trong một đêm mưa dầm tí tách, và mở xem bức thư tình tràn ngập nỗi nhớ nhung, yêu thương da diết của Thị Lộ – người vợ yêu đang ở trong cung làm Lễ Nghi Học Sỹ cho Thái Tông Hoàng Ðế…
Ba Tiêu (Cây chuối)
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Ðầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu, gượng mở xem…
(Nguyễn Trãi – Quốc Âm Thi Tập)
Ấy là tôi tưởng tượng ra cảnh đó. Nhưng phải thừa nhận rằng một vị đại thần làm quân sư hàng đầu của vua Lê Thái Tổ, người đã viết những trang cáo đầy hào khí trong “Bình Ngô Đại Cáo” sau khi đánh bại mấy chục vạn quân Minh, lại có thể viết những bài thơ đầy cảm xúc, đầy nỗi niềm yêu đương như thế!
Đi lên một chút nữa đến đỉnh Côn Sơn, một trong năm ngọn núi của dãy Ngũ Nhạc thì tôi hiểu. Dưới một tán cây già rậm rạp là một bàn cờ bằng đá. Tương truyền, sau khi từ giã cha già tại ải Nam Quan và nghe lời cha về Côn Sơn suy nghĩ về kế sách chống giặc ngoại xâm, hàng ngày thần núi Ngũ Nhạc vẫn hiện lên để đánh cờ với cụ như cách truyền lại việc hành binh tiến thoái như cụ đã dùng sau này.
Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống Lục Đầu Giang là nơi hội tụ của sáu dòng sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và sông Thái Bình. Một địa danh mà như lời người xưa: “Lục đầu vô thủy bất thu thanh” (không có giọt nước nào ở sông Lục Đầu không có tiếng kêu than của quân giặc). Có lẽ người thư sinh áo trắng ngày xưa đã đứng ở đây lặng lẽ trong tiếng xào xạc của muôn trùng, mà nghĩ suy đến vận nước?
Có thể bạn sẽ ngạc nhiên vì sao một tay kỹ sư quèn chỉ quen với bulon, ốc vít… như tôi lại có thể đắm mình trong mạch chảy của văn chương, đặc biệt là văn học cổ điển (cổ văn như cách gọi thời trước năm 1975)?
Đó là nhờ tôi đã được học thầy Lê Hòa hồi năm 1979 (lớp 11). So với các thầy cô dạy Văn Học mà tôi đã học qua như cô Ngô Thu Thủy – một cô giáo xinh đẹp mà tôi còn chưa kịp làm quen với giọng Huế ngọt ngào, dễ thương thì cô đã “vượt biển,” để hơn 40 năm sau tôi mới có thể liên lạc lại; cô Lê Túy Đại – phu nhân của Giáo Sư Nguyễn Đình Chung Song dạy Toán nổi tiếng – là người thường xuyên cho tôi những điểm 10 luận văn, khiến tôi cũng phải ngạc nhiên; thầy Phạm Đình Phùng lúc nào cũng áo tay dài, cà vạt, nghiêm nghị như một giáo sư Triết Học… Thầy Lê Hòa của tôi lại giản dị hơn nhiều. Đó là một vị giáo sư mặc áo cổ đã sờn, dáng thấp bé, đeo mục kỉnh dày cộp nhưng giảng văn hay tuyệt, nhất là truyện Kiều.
Cứ giờ lên lớp, việc đầu tiên thầy sẽ dùng phấn kẻ dọc chia đôi bảng. Một bên thầy viết bài thơ, đoạn văn cần bình giảng bằng tiếng Việt; một bên thầy viết nguyên tác phẩm ấy bằng chữ Hán nét thảo chân phương. Thấy cả lớp tôi ai nấy “mắt chữ A, mồm chữ O” kinh ngạc, thầy thủng thẳng bảo: “Các anh chị học bên phần tiếng Việt. Còn phần chữ Hán dành cho cậu này!”
Rồi thầy ném thẳng viên phấn viết dở về ngay chỗ tôi.
Cứ thế, những bài thơ tứ tuyệt, lục bát, thất ngôn, thất ngôn bát cú… của các văn hào như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát… cứ lặng lẽ chảy vào tâm hồn non trẻ của cậu học sinh 17 tuổi. Đến nỗi, cuối năm lớp 11, trong cuộc thi học sinh giỏi Văn toàn thành phố, vớ được đề thi tự do, tôi hăm hở phân tích ba bài thơ Thu của cụ Nguyễn Khuyến: Thu Ẩm, Thu Điếu, Thu Vịnh… dài tới 8 trang giấy thi. Ngồi viết miệt mài đến lúc chung quanh chẳng còn ai, chỉ còn mỗi thầy giám thị coi thi đứng nhịp nhịp chờ tôi nộp bài. Chuyện này trả lời cho bạn Phạm Công Luận của tôi, người cùng thi với tôi ngày hôm ấy tại sao tôi chọn đề tài này.
Sau khi có kết quả thi, một hôm, thầy Lê Hòa chặn tôi tại hành lang, nhìn vào mắt tôi buông một câu “Tinh hoa phát tiết thế này sớm quá. Rất tiếc!” Lúc đó, tôi tưởng được thầy khen. Hóa ra, thầy đã tiên đoán rằng tôi sẽ chẳng làm nên trò trống gì trong nghiệp văn chương!
Rồi dòng đời cứ lặng lẽ trôi. Tôi gần như bỏ quên chút chữ nghĩa thầy đã truyền. Đến Mỹ, xa hẳn không khí tấp nập nhộn nhịp của đô thành Sài Gòn, tôi chọn sống ở một vùng quê tỉnh lẻ rất giống với cảnh mô tả trong hai câu thơ trích dẫn ở trên của Ức Trai Tiên Sinh “Láng giềng toàn Mỹ trắng, Khách khứa ngàn dặm xanh.” Thường thì những lúc rảnh rỗi khi vận hành máy, đặc biệt là khi quét lá mùa Thu là khi tâm hồn tôi trở nên tĩnh lặng. Tôi cố nhớ lại những gì thầy đã gieo trong tôi mấy chục năm trước một cách khó khăn. Tôi tự nhủ mình đang “nhặt từng con chữ bên thềm sắc Thu.”

Thầy Lê Hòa của tôi đã ra đi ngày 10 Tháng Giêng, 2011, tại thành phố Duisburg, Đức.
Ôi! Thầy tôi. Thầy vừa là một nhà giáo, một nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa vừa là một chí sĩ theo đảng của những anh hùng như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu…
Tạ ơn thầy đã dạy em không chỉ chữ nghĩa mà còn là những ước mơ chấn hưng dân tộc, đất nước.
Rất tiếc, không thể gặp lại thầy khấu đầu xin lại chữ. Chỉ còn cách đọc lại những bài thơ thầy đã viết như cảm thông cho một nỗi niềm.
Dấu chân mây
Trên xa lộ
Uống cà phê
Một mình
Khói thuốc vương trong nắng
buổi chiều như làn nước mắt của mẹ nhạt nhòa năm tháng
như khói lam chiều bếp lửa buồn thiu
Bên quán nhỏ
dọc đường xa lộ
một mình ngồi uống cà phê
nhớ về quê
bằng nỗi dày vò ái ngại
để thấy hai tay mình thừa thãi
Ngày mai
con đường trở về quê hương nghe còn thật dài
như con đường trước mặt
như con đường đấu tranh có ai nghĩ rằng lầm lạc
mà xuyên suốt đời người
đi hoài chưa tới,
để mãi lưu lạc phương trời
mang niềm tức tưởi
Bởi nghi ngờ, đố kỵ
bởi chia rẽ, tỵ hiềm
người đã lạc trên dặm đường thiên lý
nên càng đi càng thấy xa thêm
Bởi tham danh, vụ lợi
bởi chấp ngã, u mê
người vẫn đi quanh co mù lối
nên càng đi càng mất mát bạn bè
Có những lần phải bơ vơ như hôm nay
để nhìn lại quá khứ
nhìn lại mình
nhìn lại tháng ngày
nhìn những đổi thay
của một thời xưa cũ
sẽ chẳng còn gì
như khói thuốc xa bay!”
| Huyền Thanh Lữ |
-Penn, đầu Đông 2021- Kính dâng lên hương hồn Thầy Lê Hòa
(Thầy Lê Hòa, sinh năm 1937 tại Hà Đông, Bắc Việt Nam, bí danh Lý Vương Đạo, bút hiệu Huyền Thanh Lữ. Thầy là cựu giáo sư trường trung học công lập Nguyễn Thượng Hiền, nguyên Ủy Viên Trung Ương Việt Nam Quốc Dân Đảng, cựu bí thư Đảng Bộ Châu Âu/Việt Nam Quốc Dân Đảng, chủ bút Tạp Chí Dân Văn.)
***
Thư và bài của trang Tưởng nhớ, xin gửi về: [email protected]

