Thơ và ảnh Nghiễm năm Đinh Dậu

Từ trái qua: Nhà thơ Đỗ Quý Toàn, nhà văn Dương Nghiễm Mậu, nhà thơ Trần Dạ Từ, tháng 7-1957.

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học ở trường tiểu học Hàng Than, trung học Chu Văn An. Năm 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau vào Nha Trang. Ông sống hẳn ở Sài Gòn từ mùa hè 1957.

Bút hiệu Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo số Tháng Giêng 1959. Từ 1962, cùng Lý Hoàng Phong làm Tạp chí và Nhà xuất bản Văn Nghệ. Đã xuất bản trên 20 tác phẩm. Tập truyện đầu tay Cũng Đành (1963). Truyện dài Gia Tài Người Mẹ (1964), Ông được trao giải Văn Chương Toàn Quốc VNCH 1966. Từ 1967, sau khi nhập ngũ, làm phóng viên quân đội. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ.

Sau 30 tháng Tư 1975, bị công an cộng sản bắt giam trong chiến dịch đốt sách và cuộc hành quân bắt giam văn nghệ sĩ miền Nam. Từ 1977, sau khi ra tù, làm sơn mài thủ công và sống tại Sài Gòn.

Nhà văn mãn phần ngày 2 tháng Tám 2016.

 

Ngày 30 tháng Tư mỗi năm, dân Bắc Âu có lệ đốt lửa ban đêm mừng xuân tới. Cái đêm xuân ấy, năm 1988, khi đứng với Toàn trên một đỉnh đồi ở Thụy Điển, cùng nhìn những ánh lửa xa xa bập bùng trong gió đêm, tôi đọc thơ: Một người ở trên đồi đi xuống…

Toàn cười, nói ừ, tiếc là không có nó ở đây.

Tôi nói nó không ở đây mà nó vẫn có đó.

Đó là lúc chúng tôi cùng nhớ Nghiễm, thời lang thang qua những đồi thông, những thác, những hồ và tấm ảnh ba thằng ở Đà Lạt hơn 30 năm trước. Thơ Toàn làm và đọc trên đường đi, chỉ mấy câu, nghe qua là nhớ. Thơ nhớ có thể đọc thành tiếng. Nhưng ảnh trong trí nhớ thì khó làm hiện hình. Nào ngờ lại được nhìn thấy nó, nhờ Nghiễm. Tấm ảnh được gửi đi, khi anh biết Toàn – Quyên từ Montreal bay sang với chúng tôi. Nghiễm là vậy, luôn biết cách giữ nguyên vẹn những thứ tưởng đã tiêu vong, không thể còn lành lặn.

Mấy chữ Nghiễm ghi về tấm ảnh nhắc tôi cái thời “đã xa kinh” ấy là tháng Bẩy 1957, một năm Đinh Dậu.

Ngày ấy, Nghiễm vào Sài gòn lần đầu, mặt mũi đăm đăm như ông già, khi đứng bên cái cầu thang ọp ẹp phía sau nhà Bác Long. Bò lên mấy nấc thang, chui vô cái gác xép mái tôn hừng hực máu nóng thời tuổi trẻ, Nghiễm nhập bọn với nụ cười lặng lẽ. Đó là nơi có bài viết đầu tiên của Dương Nghiễm Mậu ở Sài gòn: Dưới Chân Cầu Thang. Tuần báo Tin Bắc đăng bài này. Nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh cầm tờ báo, nói tôi đọc nó mà quặn cả ruột gan, đây là nhà văn mới lạ nhất của chúng ta.

Một lần đâu đây, từ Sàigòn về, Toàn bảo tôi là Nghiễm khỏe, rất khỏe mà rất trẻ, hơn bọn mình xa. Vậy mà Nghiễm đi trước. Các bà mẹ của Toàn, của Long của chúng tôi không còn nữa. Lũ con vô tích sự của các cụ cũng lần lượt ra đi. Sau tin mất Nghiễm, Toàn gửi cho tôi bài thơ cũ, hình như lần đầu viết thành chữ, với lời đề tặng nhắc nhớ Nghiễm có đó, còn đó.

Một người từ trên đồi đi xuống
Cầm trong tay một nắm củi thông
Hai người từ trên đồi đi xuống
Hốt lá úa mang gom lại cùng
Ba người từ trên đồi đi xuống
Ngồi bên nhau chụm thành ngọn lửa
Bốn người từ trên đồi đi xuống.
Nói cho nghe rừng núi chập chùng.

Bài thơ Toàn làm và đọc khi chỉ có ba thằng. Ở đâu ra, người thứ bốn từ trên đồi đi xuống. Có phải đó là cái bóng, cái hồn của những đồi thông, những thác, những hồ… Nghiễm ơi, ông chắc đã gặp nó. Nó nói cái gì mà cứ rì rào mãi.

Trần Dạ Từ

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 7 tháng 8 năm 2017

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Con thật có lỗi với Đẻ.

Con không phải là con của Đẻ sinh ra, nhưng điều đó có nghĩa lý gì khi đẻ luôn yêu quí con như đứa con dứt ruột đẻ ra. Bốn chị em con, như cùng một mẹ, đã sống...

Sống vị tha, chết Bồ Tát – Tưởng nhớ Tôn Thị Ngọc Dung

Khi còn sống, Ngọc Dung lúc nào cũng giúp ích người khác. Khi qua đời, em lại có cơ hội tặng nhiều bộ phận thân thể mình cho bệnh viện để người ta chuyển ngay đi, ghép cho những người đang cần được cứu.

Tưởng nhớ anh tôi : Nhà văn Huy Trâm

Anh Ba thương mến, Thấm thoát đã gần 49 ngày anh ra đi vội vã về cõi Vĩnh Hằng. Hôm nay em muốn ghi lại đây những kỷ niệm thân thương của anh em chúng mình, khi còn sống dưới...

Tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Văn Trường

Giáo Sư Nguyễn Văn Trường là nhà giáo và chính khách nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Bộ trưởng Giáo...

Về một bài trường ca của Trần Văn Nam

Phạm Xuân Đài Đến Mỹ vào cuối năm 1992, tôi vào làm việc với làng báo ngay, và dần dần làm quen với những khuôn mặt văn nghệ đang ở thủ đô tị nạn. Nhưng mãi hơn mười năm sau...

Ngày 26 Tháng Giêng, tưởng niệm cố GS Nguyễn Văn Trường

Lễ tưởng niệm GS Nguyễn Văn Trường diễn ra lúc 2 giờ chiều Thứ Sáu, 26 Tháng Giêng, tại nhật báo Người Việt, Westminster.

Tưởng Nhớ Cựu Đại Tá Trần Văn Xội.

Thạch Nguyễn Được tin Đại tá Trần Văn Xội đã thất lộc ngày Dec 30, 2017 tại Canada, chúng tôi giật mình, chợt nhớ là đã từ lâu không có một lời thăm hỏi tới vị chỉ huy đức độ...

Nhớ Đinh Cường.

Phạm Xuân Đài Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, VN, sống ở Huế, Đà Lạt và Sài Gòn cho tới năm 1989. Hiện ông cư ngụ tại Burke, Virginia, Hoa Kỳ. Ông là học sinh trường...

Tưởng nhớ Bà Anna Trần Thị An

Giã Từ Căn Phòng Nursing Home. (Viết thay chị Hồng Thủy khi nghe tin mẹ chị qua đời. Jan 09, 2018 ) Mẹ tôi vừa qua đời, Giã từ căn phòng trong nursing home quen thuộc, Giã từ người bạn chung phòng không...

Nhớ Mẹ Maria Anges Nguyễn Thị Lạc.

Mẹ kể rằng, gia đình ngoại là gia đình Phật Tử. Đến đời ông Ngoại của Mẹ, đó là thời vua Tự Đức trị vì, không biết do duyên cớ nào, ông cố lại cưu mang 4 cha người...