Tại bệnh viện St. Joseph, Orange, ngày 3 tháng 8 năm 2019, lúc 9g15 phút tối, chú Bửu Phục của tôi đã thở hơi cuối cùng bên cạnh Nam Phương, người con gái út yêu thương của chú. Chú Bửu Phục là chú út của tôi. Ông bà nội tôi có 10 người con và chú là con út. Vì là con trai út nên chú được bà nội tôi rất thương yêu, cưng chiều và nuôi nấng rất đầy đủ, nhờ đó chú có một thân hình cao lớn và một sức khỏe thật dồi dào. Sau này trong quân ngũ, có những lần duyệt binh lễ Quốc Khánh, chú được vinh dự cầm cờ oai vệ đi đầu hàng quân của đơn vị.
Ông là một trong những người chú mà tôi được gần gũi nhất và cũng là người chú cho tôi nhiều ấn tượng và ngưỡng mộ nhất.
Đối với tôi, ông thật sự là một võ tướng và là một chiến sĩ anh hùng trong bao nhiêu anh hùng của cuộc chiến Quốc Cộng; mà nhờ họ miền Nam được hưởng hơn 20 năm tự do và phát triển. Ông đã trải qua bao trận đánh lớn từ thời chiến tranh Việt Pháp 1945-1954 và cũng vào thời điểm đó chú tôi đã bị bắt làm tù binh trong một trận giao tranh khốc liệt với quân Việt Minh bên Lào mà đơn vị ông bị tiêu diệt chỉ còn mình ông bị bắt sống. Được trả tự do bởi hiệp ước đình chiến, chú tôi về đến nhà cha mẹ ở Phủ Cam, Huế thì được chị giúp việc cho hay: “Cả nhà đã đi nhà thờ dự thánh lễ cầu hồn cho cậu”. Chú tôi chạy vội đến nhà thờ và khi thấy ông xuất hiện, bà nội tôi quá xúc động suýt ngất đi.
Tiếp tục đời quân ngũ và sau thời gian thụ huấn ở quân trường Võ Bị Quốc Gia (VBQG) Đà Lạt và quân trường Bộ Binh Hoa Kỳ Fort Benning, ông được cử làm huấn luyện viên cho các quân trường VBQG Đà Lạt và Quang Trung. Nhưng chẳng được bao lâu, vì tính tình thẳng thắn, nóng nảy, không nịnh bợ, và không bè phái, ông đã bị cấp trên đổi ông ra đơn vị tác chiến. Vùng 4 chiến thuật hay thường gọi là miền Tây là nơi ông đã phục vụ không gián đoạn cho đến ngày quân đội VNCH bị bức tử. Từ biên giới Việt Miên cho đến Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Mỹ Tho. Cần Thơ,… đều đã có dấu giày của ông. Với tính tình gan dạ và kinh nghiệm chiến trường dầy dạn, các binh sĩ dưới quyền của ông không nao núng khi lâm trận và những tiền đồn hay căn cứ hỏa lực ông chỉ huy không bao giờ bị tràn ngập khi Cộng quân điên cuồng với chiến thuật tiền pháo hậu xung lợi hại của chúng. Có những lần hành quân chạm địch, ông phất ngọn cờ màu đỏ trong tay và hô lớn” Xung Phong” để thúc dục binh sĩ theo sau tràn lên thanh toán mục tiêu. Khi căn cứ hỏa lực bị địch pháo kích và tấn công, ông nhanh nhẹn phóng ra khỏi hầm trú ẩn để điều động binh sĩ tác xạ phản pháo và chạy đến từng vị trí phòng thủ để khích lệ tinh thần binh sĩ .Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng liên đội Địa Phương Quân ở quận lỵ châu thành Phụng Hiệp, Cần Thơ, ông nghiêm trị những cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (XDNT) vô kỷ luật nhũng nhiễu dân lành và gây sự ẩu đả với binh sĩ của ông. Ông cho bắt những tên cán bộ này về đồn và phạt họ bằng cách đánh cho mỗi tên “vài chục hèo” như thầy giáo phạt học trò nghịch ngợm. Bọn này về báo cáo với tỉnh trưởng là Đại Tá K. vì XDNT là thuộc quyền của tỉnh trưởng, Đại tá K. rất tức giận báo cáo về bộ tổng tham mưu là đại úy Bửu Phục đang tác oai tác quái ở đây.
Bộ Tổng Tham Mưu (TTM) bèn cử một phái đoàn thanh tra gồm các sĩ quan Việt- Mỹ về tận nơi để điều tra. Đến nơi, họ không thể ngờ là Bộ Chỉ Huy của đại úy Bửu Phục lại trú đóng trong một ngôi trường tiểu học đã bỏ hoang với nhà tôn vách đất, chẳng có lấy một tiện nghi tối thiểu. Để chứng tỏ cho ban thanh tra thấy thành quả bình định an dân của mình, ông cho mở một cuộc hành quân trên sông lạch suốt đêm trong vùng trách nhiệm. Ông ngồi chểm chệ ở đầu mũi thuyền chỉ huy tay ghì chặc cò súng đại liên M60. Thuyền chạy cao tốc hàng giờ trên những sông lạch với mấy anh cố vấn Mỹ ngồi áp sát vào khoan thuyền thấp thỏm lo âu không biết khi nào sẽ được chiếu cố bằng một quả B40 của địch quân đang chờ sẵn đâu đó. Sau lần thanh tra này, Bộ TTM bèn gửi công văn khen ngợi đại úy Bửu Phục và gấp rút tiếp tế vật liệu xây dựng nhà cửa cho bộ chỉ huy của ông. Chẳng bao lâu sau đó, Bộ TTM quyết định thăng cấp ông lên Thiếu Tá. Quyết định được gửi về cho đại tá K. để ông đích thân gắn lon cho đại úy Bửu Phục. Nhưng phải đến nhiều tháng sau đó, khi nổ ra trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, đại tá K. bị tử thương trong một cuộc phục kích, người ta mới tìm thấy tờ công hàm thăng chức cho đại úy Bửu Phục nằm trong hộc bàn làm việc của ông.Ở Cần Thơ thuở ấy mới có câu vè: “K. chết Phục mới lên thiếu tá”. Những năm sau cùng trước biến cố tháng 4/1975, chú tôi được phục vụ tại căn cứ Đồng Tâm, nơi có bộ tư lệnh vùng của tướng Nguyễn Khoa Nam. Dù chỉ là một sĩ quan tiểu đoàn trưởng, ông được tướng Nam quý trọng và tin tưởng vì tính tình liêm khiết, gan dạ và dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Những khi vì bận với những công tác khác, tướng Nam thường nhờ chú tôi dùng trực thăng của ông thay ông bay quan sát tình hình hay thị sát mặt trận. Các phi công trực thăng rất ngại phi hành với thiếu tá Bửu Phục vì ông có thể bất ngờ bảo phi công cho chúc mũi trực thăng xuống và bay thật thấp để ông quan sát cho tường tận những dấu hiệu khả nghi dưới đất. Những thao tác bay như vậy thật nguy hiểm về kỹ thuật cũng như dễ bị phòng không địch bắn hạ. Cũng vì mối liên hệ mật thiết với tướng Nam và chú tôi nên ở căn cứ Đồng Tâm lúc bấy giờ có tiếng đồn: “Trên là Nguyễn Khoa Nam, dưới là Bửu Phục “. Sau này, mỗi lần nhắc đến tướng Nguyễn Khoa Nam, ông thường trầm ngâm và vẻ buồn bã hiện ra trên gương mặt.
Ngày tàn cuộc chiến, ông ở lại với đơn vị tại căn cứ Đồng Tâm cho đến khi được lệnh buông súng. Ông giã từ anh em binh sĩ và trở về với vợ con ở Sài Gòn. Theo lời kêu gọi đi học tập thời gian ngắn, những kẻ thắng cuộc đã lừa bịp để đày đọa ông và hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam vào các trại tù khổ sai không biết ngày về. Chú tôi đã không chấp nhận điều đó và ông đã phản kháng mãnh liệt. Ông đã đánh nhau với bọn cai tù và nhất định không thi hành lao động. Nhiều đêm, lúc cả trại tù đang ngủ, vì quá phẫn uất ông vùng dậy hét lớn: ” Đốt Sạch, Giết Sạch, Phá Sạch” , khiến bọn cai tù phải một phen thất kinh tưởng tù nhân nổi loạn. Bởi thế ông đã bị những trận đòn thập tử nhất sinh. Cuối cùng, bọn CS cũng đành phải thả ông về vì không thể khuất phục được một con người sắt thép như ông. Giấy ra trại của ông được ghi là: ” Học viên này chưa hề thi hành một ngày lao động sau 5 năm cải tạo”.
Về với gia đình năm 1980 ở Nhà Bè, chú tôi vẫn bị bọn CS địa phương quấy nhiễu nhiều năm sau đó. Bọn công an vào xét nhà ông bất cứ lúc nào để ” hỏi thăm”. Mãi đến năm 1998, chú mới được sang Mỹ với vợ và 2 con. Đời sống ở Mỹ tuy yên ổn và bớt đi nhiều nỗi lo âu; nhưng tôi chắc có những lúc ông rất buồn và nhớ. Nhớ biết bao quê hương Việt Nam ngàn đời yêu dấu, nhớ da diết những đứa con và cháu nội ngoại đẹp ngoan, nhớ bao kỷ niệm điêu linh của thời chinh chiến sống giữa đồng bào và binh sĩ thân thương, và làm sao quên được mồ mã ông bà tổ tiên ở cố đô Huế ngàn trùng xa cách.
Còn rất nhiều giai thoại về chú Bửu Phục mà khi có thì giờ thong thả hơn, tôi sẽ ghi lại tất cả. Giờ đây ông đã nghỉ yên. Một vị anh hùng của đất nước đã ra đi; cũng như bao anh hùng khác đã ra đi hay còn ở lại. Tôi thật hết lòng ngưỡng mộ và biết ơn họ vì nhờ họ mà chúng ta còn được hãnh diện là người VN và muốn mãi mãi làm người Việt Nam.
Vĩnh Thừa

