ORCHID LÂM QUỲNH – Thư cho Bố
Cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!
Đã từ lâu, Bố tập cho con thói quen: Không dùng chìa khóa. Vì bao giờ, mỗi trưa đi dạy về, Bố đều ra mở cửa. Tôi lái xe về nhà sau một đêm trong ER cùng Bố. Tôi gạt kính xe liên hồi, nhưng kính xe vẫn nhạt nhòa, nước trần gian, vị mặn. Tôi mở cửa, cơn gió lùa vào, cắt ngang da thịt. Về đến nhà, lục tìm chìa khóa. Tôi gào lên: “Sao Bố không mở cửa!” Mắt tôi nhòe đi. Thoang thoảng bên tai: Tiếng “Hoa cỏ cũng lên trời”, tiếng “Thú lìa rừng, chim chóc lạnh từng đôi”. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình thất lạc.
Nhưng thôi, cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!”
Đã từ lâu, Bố tập cho tôi một thói quen: Sáng thức dậy, việc đầu tiên là làm café cho hai bố con, trước khi tôi đi dạy, và trước khi Bố đi café cùng bạn. Vậy là kể từ hôm nay, tôi tiết kiệm được một phần café. Sự tiết kiệm mà không ai, dẫu chỉ một lần, muốn chạm.
Cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!
Đã từ lâu, Bố tập cho tôi một thói quen: phải làm việc ngoài phòng khách, để Bố cần gì, thì bay tới ngay để phụ. Sau mấy lần bạo bệnh, Bố yếu đi khá nhiều. Tay chân lọng cọng nên làm gì cũng sai, bưng gì cũng đổ. Tôi có nhiệm vụ “canh” Bố buổi trưa, và Mẹ “rình” Bố buổi tối. Tội nghiệp. Đường đường là một tên tuổi lớn, mà luôn bị rình rập bởi 2 người phụ nữ trong nhà.
Cho đến ngày xuất hiện người phụ nữ thứ 3, tên Roll.
Đã từ lâu, Roll tập cho Ông Ngoại một loạt những thói quen: Không được đi giày vô nhà, không được chơi phone nhiều, sẽ hư mắt, không được ăn trên giường, và không được hút thuốc lá… Thế mà Ông Ngoại răm rắp nghe theo.
Hôm qua, khi đi học về, Roll hỏi Ông Ngoại đã về chưa, để Roll khoe hình mới. Tôi bàng hoàng bảo Roll, chính con là người đã thấy Ông Ngoai lên Trời mà. Roll cãi lại: “Nhưng Ông Ngoại đi lâu quá”. Rock còn nói thêm: “mà Rock không thấy Ông Ngoại ở trên Trời.” Tôi phải giải thích rằng: “Rock N Roll buổi sáng đi học, mẹ đi làm, mình không thấy nhau, nhưng Rock N Roll biết chắc là Mẹ vẫn còn đây. Đã đến lúc cả nhà phải tập thói quen: Dẫu không nhìn thấy Ông Ngoại, nhưng hơi ấm của Ông, vẫn nguyên vẹn góc trái.
“Cách gì, hai đứa cũng phải hiểu rằng, mẹ và Ông Ngoại cũng sẽ không cùng nhau đi xe ambulance một lần nào nữa!”
-Rock: Daddy, how come Grandpa doesn’t come back. I miss him so much.
-Daddy: Grandpa is in the sky. You can always feel him in your heart.
-Rock: But I want to hug him. How can I hug him for a long time?
-Daddy: But he can drink coffee with friends without driving now. He is no longer sick. He is happy. You want Grandpa to be happy right?
-Rock: Yes Daddy. But I miss him so much.
Bố ơi, con sẽ cố gắng tập làm quen, việc Bố đã “mở đầu nhân loại: cuộc chơi riêng” (*).
Những người tới chia buồn, luôn an ủi con: “he is in a better place”. Con không tin điều đó. Con tin rằng: Không có nơi nào ấm áp, bình an hơn gia đình mình.
Nhưng thôi, Cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!
October 9, 2019

ORCHID LÂM QUỲNH – Mọi nỗi đau đều cần sự nhiệm mầu để vượt qua
Mọi nỗi đau đều cần một sự nhiệm mầu, để vượt qua.
Cách đây mấy ngày, mẹ LQ có hỏi: Con sẽ nói gì với Bố, con phải viết xuống. Dù là 1 tên tuổi lớn, bao giờ Ông Bố cũng viết xuống. Cũng đọc trước. LQ chìu ý mẹ, và viết xuống, để đưa mẹ đọc. Nhưng hôm nay, LQ quyết định sẽ không nói theo bài đã được “nhà nước” kiểm duyệt.
Mọi nỗi đau đều cần một sự nhiệm mầu để vượt qua, và sự thật luôn nhiệm mầu.
LQ không tôn thờ, không thần tượng thi sĩ Du Tử Lê, không đắm chìm trong cõi thơ DTL, vì căn bản LQ yêu âm nhạc, chứ không yêu thơ.
Nhưng, LQ yêu bố mình da diết.
Từ khi tự cho mình đã đủ trưởng thành, và sau những lần bạo bệnh của Bố, tình yêu ấy được chuyển hóa sang một khuôn mặt khác, đó là tình… mẹ con. LQ yêu Ông như yêu một đứa trẻ. Yêu sự ngây ngô, vụng về của Ông. Yêu những lời nói thật, mà Ông chỉ dành riêng cho gia đình. Ông kể hết tất cả mọi chuyện, vô số chuyện từ những quán cà phê mà Ông góp nhặt cho đến chuyện những mối tình cũ, mới… Cái hay là hỏi gì Ông cũng nói, cũng kể. Ở ngoài Ông là người ít nói, nhưng về nhà Ông là người rất… nhiều chuyện. Gia đình luôn có một bữa cơm tối đoàn tụ, và đó là dịp để Ông kể. Ông kể từ kiếp này luôn đến cả kiếp sau. Nhân nói chuyện kiếp sau, LQ cũng muốn nhắc lại một chuyện vui vui. Có hôm LQ hỏi kiếp sau Bố muốn làm đàn ông hay đàn bà. Ông nói không suy nghĩ: Muốn làm phụ nữ Bố chán làm đàn ông lắm rồi. – Vậy nếu là phụ nữ thì Bố sẽ lấy ai? Ông suy nghĩ rất lâu, có lẽ cho rằng điều sẽ nói rất quan trọng. LQ giải mã dùm: -Có phải Bố muốn lấy Bác Trần Dạ Từ, đúng không? Ông tủm tỉm cười hơi có ý mắc cỡ. (Thôi thế thì kiếp sau Cô Nhã Ca khó khăn rồi, khi đối thủ của cô là một người rất đáng gờm)
Nói thế để thấy rằng gia đình luôn là nơi Ông tìm về nương náu. Ông an tâm về gia đình, nên Ông luôn lấy gia đình làm bia đỡ đạn. Thí dụ Ông muốn từ chối ai điều gì, Ông thường nói: “Để anh về hỏi ý chị T.” Và rất dễ thương là, sau khi nói với bạn, Ông lại về nhà kể hết cho vợ nghe, có những lần vợ ngồi bên cạnh, Ông cũng tỉnh bơ nói với bạn: “Để anh…” Sau này Mẹ than quá, sao anh cứ bắt em làm vai ác hoài vậy? thì ông chuyển hướng sang Rock N Roll. Khi muốn từ chối, ông nói: “Anh phải về trông cháu!” Ông chẳng trông cháu bao giờ, vì bên hai cháu ông trở thành một cháu… thứ ba, cũng ồn ào phá phách như nhau.
Nhưng cả gia đình vẫn chiều ông như 1 đứa trẻ. Một đứa trẻ với rất nhiều lỗi lầm, và lỗi lầm lớn nhất của ông là, “đã bay lên trời”, để nến tôi cháy đỏ mùa chia biệt. (*) Nhưng LQ, mẹ, Hân, và cả Rock N Roll sẽ nói với ông rằng: Đã thương con rồi là thương suốt đời, và thương hết cả lầm lỗi của con. (**)
Đối với gia đình:
Nghìn năm “ông” vẫn là đứa trẻ,
cần tay mẹ như thuở lên năm. (*)
Mọi nỗi đau, luôn cần 1 nhiệm mầu để vượt qua.
Có lẽ vì vậy trong mấy ngày hôm nay, 2 mẹ con, dù không nói gì với nhau, đặt từng vị trí trong quá khứ, đã sống thật đằm thắm với Bố. Và cả 2 mẹ con, mệt nhoài vơ vét những kỉ niệm. Cây viết, ly nước, cái kính, cái nón của ông. Dù cái nón đã thất lạc. Hai mẹ con tha thiết xin lại cái nón của ông, nhưng cái nón vẫn không trở về. Cách đây mấy hôm, LQ có nhận 1 tin nhắn của một người chị, chị nói rằng: – Em thấy điều đó có cần thiết không? Chị nghĩ để cho người ta làm kỉ niệm. Nhà mình đã có quá nhiều kỉ niệm với Bố rồi. Điều đó có cần thiết không em?
-Thưa chị, em hiểu ý chị. Nhưng hôm nay em cần chị hiểu 1 điều: Ông Du Tử Lê, ông Tô Thùy Yên, Ông Mai Thảo, Ông Anh Bằng, Ông Phạm Đình Chương… là những người bất tử. Và nếu thật sự chị yêu quý họ, khi chị về nhà hôm nay, vần thơ, nét nhạc của họ sẽ còn nguyên vẹn trên kệ sách. Vì đó là ngọn lửa cho đời sau, kiếp khác. Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
Mọi nỗi đau đều cần sự nhiệm mầu để vượt qua, em tự hứa với lòng, mình sẽ sống tử tế với nhau, trước khi thành quá muộn (*).
(*) Thơ Du Tử Lê
(**) “Lòng Mẹ Việt Nam” Nhạc Sĩ Lê Thương
HẠNH TUYỀN – Ký ức những ngày có nhau
Cuối năm 1972, em gửi một truyện ngắn vào tờ Tiền Phong, nơi anh làm Tổng Thư Ký. Em viết một cái note: -Thưa Ông DTL, tôi có đọc bài thơ của ông trên báo Xuân vừa rồi, nó không được hay. Em viết thế thôi, không có ý gì, nhưng anh trả treo ngay: -Tôi cũng công nhận thế, cô đang đi học? -Không, tôi là thợ may. Lúc đó em đang học năm thứ hai ĐHSP ban Việt Hán, nhưng thích nói thế. Khi truyện ngắn đăng lên, anh đổi tên tác giả: Phan Giáng Tiêu. Em nổi khùng: -Tôi không thích đổi tên, tôi không thích lấy bút hiệu, lần sau cứ để nguyên tên tôi, Phan Hạnh Tuyền.
Những lá thư sau đó, anh gọi em là “Nhỏ”, “Gà con”. Em cũng nổi khùng: -Tôi không nhỏ, tôi cũng không phải là gà, tôi cao lớn, đừng gọi tôi là nhỏ, là gà, cứ gọi tôi là Tuyền, Hạnh Tuyền. Không biết sao em cứ ưa ngủng ngẳng với anh như thế.
Rồi thì Anh vô ra Huế – Saigon như đi chợ, trên những chiếc C130 hiếm hoi có đường bay Saigon-Huế. Có hôm anh khoe: Hôm nay trên máy bay có hai thằng ngồi, ba thằng nằm. (Hai thằng ngồi là nhà thơ Kim Tuấn và anh. Ba thằng nằm là ba xác chết của ai đó).
1974, em ra trường, anh xúi dại chọn Pleiku làm nhiệm sở, vì Pleiku-Saigon, đoạn đường xa cách của hai đứa chỉ còn một nửa, so với Huế-Saigon diệu vợi. Mình đi thăm nhau sẽ ngắn hơn, sẽ được gặp nhau nhiều hơn. Ngày đầu nhận nhiệm sở, anh gửi gắm khắp nơi, Kim Tuấn, Vũ Hoàng, Lê Nhược Thủy, Hạ Quốc Huy, Chánh Sở Học Chánh Thái văn Duy… Những người bạn thương anh, đã lo cho em rất chu đáo.
Em dạy đấy chỉ mấy tháng, thì Pleiku thất thủ.
Tháng 3 năm 1975, cao nguyên mất, em rời Pleiku, quơ vội chồng thư anh gửi cùng mấy cuốn thơ DTL, cứ thế lao ra đường theo đoàn người di tản. Hơn một tháng trong rừng, một mình cứ nhắm mắt lao vào phía trước, tả tơi, thất lạc trên Tỉnh Lộ 7 B. Thay vì chạy về Huế với gia đình, em quyết định về Saigon tìm anh. Em lấm lem mặt mũi, rách bươm áo quần, trên chân dép mang chiếc đực chiếc cái. Em tìm đến số 2 Bis Hồng Thập Tự. Mình đã gặp lại nhau lúc ấy.
Anh viết:
Cũng từ tình yêu cái thành phố như một thiếu nữ đẹp một cách đằm thắm, kín đáo, nên khi H.T. tốt nghiệp ĐHSP Huế, thay vì để HT chọn Quảng Nam, hay Quảng Trị… tương đối gần Huế, tôi đề nghị HT chọn Pleiku, ngõ hầu tôi có thể đi thăm HT thường xuyên hơn…
Ngày HT đáo nhậm nhiệm sở, không thể rời Saigon, tôi nhờ Kim Tuấn thay tôi, đón HT ở phi trường. Lo giúp nơi ăn chốn ở cho T.
Bạn tôi chu đáo tới độ rủ thêm một số bằng hữu văn nghệ khác, cùng ra phi trường đón cô giáo… mới. Nhưng, cũng vì đề nghị của tôi mà, HT trải qua gần một tháng điêu linh trên tỉnh lộ 7B… Đó là lúc bộ tư lệnh quân đoàn II, quyết định di tản khỏi Pleiku về Nha Trang. Thời gian bặt tin nhau, tôi bị khủng hoảng. Những tưởng sẽ không có một lần thêm, gặp lại T.
Cho tới một buổi trưa những ngày giữa tháng 4, khi người lính gác cổng cục TLC, đường Hồng Thập Tự, vào phòng, báo tôi biết có thân nhân tìm gặp… Ra cổng, thấy HT xanh xao! Phờ phạc! Thất sắc! Tập quán Việt Nam thời đó, không cho phép tôi ôm T. Nhưng nhìn T, tôi muốn chảy nước mắt! (Pleiku, Những Điều Đọng Lại Trong Ký Ức – DTL 2013)
*
Gần hai chục năm, mình hết lạc nhau. Anh đưa em đến gặp Ông Vũ Tài Lục, Ông Lục nói: Ông là Dương Liễu Mộc, cô này là Tùng Bách Mộc, Ông là cây lan quý, nhưng cần cây tùng, cây bách.

Anh vin vào câu của Ông Vũ Tài Lục nói, rồi an tâm ăn gian với em trong đời sống của hai đứa! Anh đã ăn gian em quá đỗi. Bao giờ, ở đâu, lúc nào… mọi tốt lành, ưu đãi em toàn nhường hết cho anh. Em leo lên mái nhà để sửa mái bị dột, thì anh ở dưới vịn thang. Em kéo 3 thùng rác hàng tuần ra đường, thì anh giữ cửa. Em nói em thích ăn cọng rau muống (!?), thì anh bảo: Còn anh thì chỉ thích ngọn và lá, hai đứa mình như thế là chả bao giờ gây gổ nhau. Trong closet áo quần, hai ngăn trên cùng và một ngăn dưới cùng là của em, 3 ngăn ở giữa vừa tầm tay, để không phải vói lên và để không đau lưng khi cúi xuống, là của anh.
Nhớ hồi mình ở Lucille, Anh mơ ước có một hồ cá, em hì hục ngày này sang ngày khác tự đào hồ cá. Đất cứng quá, em khoanh vùng lại rồi hằng ngày tưới nước lên cho đất mềm ra, đào lớp đất mềm lên, rồi tưới tiếp, lại đào lên mớ đất khác. Cứ thế một tuần, rồi một tuần… cũng đào được cái hồ. Em và Bé đi Home Depot mua đá, hai mẹ con hì hục quây hồ, cũng có thác nước chảy, cây trồng, hoa cỏ hai bên, bầy cá con bơi lội…
Anh đi một tuần thì bầy cá trong hồ đi theo. Mấy con cá, dạo hai đứa đi mua ở tiệm Nhật, đường Golden West, mình đâu có nhiều tiền để mua những con to, chỉ lựa những con bằng đầu ngón tay, 5 USD. Dạo đó hai đứa hí ha hí hửng đem về, chia nhau, anh một con, em một con, thả xuống hồ. 26 năm tụi cá ở với mình. Em cho ăn, clean hồ, thay nước… Anh chỉ ngồi ngắm, có khi ngồi hàng giờ với cá, anh thích có cái bàn nhỏ. Em mua cây về, tự đóng một cái bàn nhỏ, một cái ghế vừa tầm cho anh ngồi chơi với cá. Vậy mà hôm qua, sau 1 tuần anh đi, tụi nó đi hết theo anh. Tụi nó nằm phễnh phơi bụng trắng phếu. Em đau như những lần anh bịnh, nhưng thật nhanh sau đó: -Thôi anh mang tụi nó đi đi, cho anh vui nơi chốn mới.
Anh ăn gian ngoài đời, ăn gian luôn cả trong thơ. Đến ngày cuối cuộc đời cũng còn ăn gian với em, ra đi cũng giành đi trước để bao nhiêu đau buồn, rối rắm cho em, ở lại.
-Nghìn năm nữa, tôi vẫn là đứa trẻ,
cần bàn tay của mẹ thuở lên năm.
như mưa/ nắng, rất cần cho cây trái;
em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình
(“Em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình”-DTL)
Sau ngày anh đi, em ngập chìm trong ký ức có nhau, những lá thư anh viết hồi em còn ở Việt Nam, những cái note anh để lại, chỉ vài hàng, hay đôi khi chỉ hai chữ “Thương lắm!”, những hẹn hò một nơi chốn khác để có được nhau, những cùi vé máy bay đi về thăm em và con vào những năm mình gặp lại. Những lén lút có nhau trong quá khứ rất xa… Cái note sau cùng tình nghĩa: “Anh cất ½ bát phở trong tủ lạnh, khuya T. dạy, dù lười mấy, cũng ráng ăn, T. à”…
Em sẽ sống ra sao với ngần ấy ký ức, anh Lê!?

TRẦN THỊ NGH. – Hạnh Khúc
Khúc 1
Hạnh Tuyền,
Mười sáu tuổi chị bắt đầu chép thơ của các tác giả yêu thích vào các quyển sổ đèm đẹp, khổ 15X21cm đóng xen kẽ 1 tờ giấy trắng, một tờ pơ-luya màu hồng hoặc màu xanh da trời. Ba bài đầu tiên của Du Tử Lê chép năm 1966 là Ngựa Ca, 3 Đoản Khúc Ngựa Hoang và Khi Người Về. Không nhớ đã lấy ra từ nhật báo hay tạp chí nào nữa. Tựa và tên tác giả được trình bày “nghệ thuật” trên tờ giấy trắng, còn bài thơ được nắn nót trang trọng ở trang sau trên tờ giấy mỏng te. Các tập thơ vẫn còn được để dành đến bây giờ đã 53 năm, đang dần rệu rã. Dạo ấy, chị đang thời kỳ khắc khoải siêu hình nên rất lăn tăn vì âm và nhịp và ngữ trong những câu như:
Người về đâu không người không về đâu
Chiều chưa mưa nên chiều chưa thay màu
Tôi cây me đứng run từng lá
Lá đã vàng rồi tôi đã vàng theo
Vì vậy mà không thể không mê mẩn với con dế buồn tự tử giữa đêm sương, chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm, bầy sẻ cũ hom hem, rồi cuối cùng… qua đời lặng lẽ… Nói chung là mấy con đó lúc nhúc thơ mộng, cũng hơi lâu, trong tâm hồn độc giả tuổi “teen” là chị NgH của hơn nửa thế kỷ trước.
Khúc 2
Mãi đến năm 1972, sáu năm sau khi chép đầy các tập thơ, nhân có lần ông Ba Tê rủ đến chỗ hẹn với Mai Thảo ở quán nhậu trên đường Hiền Vương, chị mới thấy một ông mặt mũi quạu quọ có râu mặc quân phục ngồi một mình có vẻ như đang chờ ai đó họ Khúc (Khúc Thục Ngạn, Khúc Huyền Châu, Khúc Thụy Châu…???) ở cái bàn thấp ngay cửa ra vào quán, được ông Ba Tê quơ quơ tay giới thiệu: Du Tử Lê. Lúc ấy trông anh giống y bức ảnh do Trần Cao Lĩnh chụp – cùng với chân dung các tác giả khác, in trong quyển Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta do Nguyễn Đông Ngạc thực hiện. Chỉ có vậy thôi. Sau đó thì bàn ai nấy nhậu. Giống như Hạnh Tuyền, chị chỉ xin một ly nước lạnh, để ngồi cầm hơi với mấy ông kẹ.
Khúc 3
Thật không ngờ hai người gặp lại nhau hơn bốn mươi năm sau, cùng với… niệm-khúc-cuối là Hạnh Tuyền đó, ngay trong nhà chị ở Phú Nhuận, mới lạ! Giờ thì không còn nhớ vì sao mà có một cuộc hạnh ngộ như vậy. Râu thì anh cạo sạch rồi, người hơi khom khom lùng thùng áo sơ-mi trắng tay dài nhét trong quần tây xam xám rồng rộng, miệng cười cười hiền hiền, không có vẻ gì là nhà thơ lính chuyên làm lục bát tán gái (đến con nít 15-16 tuổi cũng bị đốn), như người ta vẫn thường bêu riếu. Vô cùng bất ngờ và xúc động khi anh moi ra từ trong túi xách món quà tặng: một bình gốm, trên đó có ghi sẵn hai câu thơ cuối trong bài 3 Đoản Khúc Ngựa Hoang mà chị đã chép hồi… vị thành niên:
Đấy em! Ngựa đã tan đàn
Chúng ta càng lớn khôn càng chia xa
Sự trùng hợp làm chị vừa kinh hoàng vừa sung sướng đến lạnh cả sống lưng, vã mồ hôi hột.
Mình gặp lại nhau thêm vài lần nữa. Lần nào Hạnh Tuyền cũng quyết tâm chụp cho hai anh em một tấm ảnh ngay trước cổng nhà chị, nhờ vậy mà còn-đó-nỗi-buồn. Ngoái lại thấy rõ ràng cả đời anh đã sống tròn/vẹn cho thơ (có ai ăn dầm nằm dề/hít thở bằng thơ thôi mà còn sống đến…già???), yêu không phanh (có ai yêu bứt gân bao người phụ nữ mà vẫn có Hạnh Tuyền hăm he sẽ lại lấy anh Lê làm chồng ở kiếp sau???).
Ba khúc kể trên chị gọi là Hạnh Khúc, bởi những cuộc hạnh ngộ ở các khúc quanh của cuộc đời thật vô giá. Như Hạnh Tuyền đã gặp anh Lê, như anh Lê đã gặp Lâm Quỳnh, như niềm vui anh có được từ hai đứa cháu ngoại Lắc-và-Lăn/Rock-n-Roll trong ngôi nhà có nuôi chim và cá Koi, như chị NgH đã “gặp” anh từ thuở ấy cho đến thuở này.
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
Trần Thị NgH
Tháng 10/2019
Thơ Ở NGH
Du Tử Lê
tĩnh lặng người, trong tĩnh lặng, tranh
con đường khấp khiểng, chỗ ngồi rơi (*)
nắng đi tìm gặp mưa đời trước
gieo xuống trần gian hạt lẻ loi
tĩnh lặng chìm, trong tĩnh lặng, quen
như nỗi buồn riêng ngoài cửa chung
nhánh cây phân hủy – trơ thân phố
đáy cùng đổ, nát: dương cầm lên
tĩnh lặng ngừng, trong tĩnh lặng, trôi
gió lật kèo treo niềm hổ ngươi
vầng trăng tự vẫn thời con gái
mưa giáp hạt bầm, chiều đi lui
tĩnh lặng nguồn, trong tĩnh lặng, sông
biển nằm. thân động. bóng di căn
tháng ba. ký ức xanh cao tốc
ngựa thồ đêm, tịnh. cõi tư riêng
tĩnh lặng chiều, trong tĩnh lặng, chim
lược soi gương lạnh: sợi oan khiên
lấm lem thân-thế-khuya như kiếp
hạt máu nào trong từng chấm đen
tĩnh lặng…cười, trong tĩnh lặng…câm
gập ghềnh thân thế. xóc. gai đâm
mực, sơn vói tới chân trời khác?
quay lại. ghế khô. bàn trơ xương!!
tĩnh lặng đời, trong tĩnh lặng, nghe
xuống tay, chữ, nghĩa chùn cán dao
sớm, hôm cháy nỏ triền thao thiết
sống/chết gần bên sóng, nghẹn ngào
tĩnh lặng còn, trong tĩnh lặng, xa
vẽ vời thế sự chỉ thêm đau
cười vang, lan: giấu niềm thương bạn
tự hỏi mai này liệu thấy nhau?
tĩnh lặng Ngờ, trong tĩnh lặng. Tê
lẵng hoa thương tổn những về/đi
trái tim ngũ sắc sau giông bão
sưng, tấy tâm mình bao vết khâu
Du Tử Lê
(California April 2015)
(*) Tựa đề một bức tranh của Trần Thị NgH

TRANG NGUYỄN – mỗi chúng ta, một miền (riêng) tưởng niệm.
cô ơi –
con trang.
mỗi chúng ta, một miền (riêng) tưởng niệm.
giữa buổi ban trưa da diết nắng sài-gòn, cô Hạnh Tuyền nhắn: chú mất rồi.
*
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… chú đâu biết lần nào là thật.
giờ này, Cô Tuyền nương tựa vào từng tờ ghi chú, từng thân cận dặn dò, từng mỏng manh làn hương tâm tưởng, để hiểu: từ nay sẽ phải xa người, xa hơi thuốc cay, xa biển lớn ân tình. con bé Orchid LQ & thằng Hân nương tựa lẫn nhau, để hiểu: từ nay, chúng không còn nghe, không còn thấy Bố Lê mở cửa về nhà với chúng nữa. lũ nhóc Rock&Roll nương tựa miền thơ ấu hồn nhiên để chẳng thể nhận ra, rằng: từ nay, sẽ không còn ông Ngoại. và, Con Trang nương tựa vào vách ngăn màu nhiệm, dựng lên từ xa cách địa lý, trong lòng sài-gòn, để hiểu: chú mất rồi.
chẳng có cách gì mà đòi một thác ghềnh giữa đỉnh cao nắng hạn; chẳng có cách gì mà trái tim kia lại tiếp tục gọi về những lượng máu tươi hồng và cũng chẳng có cách gì mà giữ được con người ta ngay lúc họ cần thiết phải ra đi (dù đó là điều chẳng hề muốn).
chú biết mà, phải không?!
*
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… chú đâu biết lần nào là thật.
người yêu chữ hay tặng chữ cho nhau, để chạm và giữ nhau mãi trong một cảm tình nhất định. chú Lê đã tặng cho Con Trang rất nhiều chữ trong suốt quãng đường nhân thế, với nhau. hơn cả chữ, chú đã hết mực ưu ái cho Con Trang vào thơ, vào hoạ, vào tình thương mến gia đình. vậy mà… giờ này, lần đầu tiên (cũng là lần cuối cùng) Con Trang muốn thể hiện lòng ưu ái dành cho chú thì nó cũng chỉ còn duy nhất một miền (riêng) tưởng niệm hòng phó thác cái thứ chữ nghĩa mỏng như hương, chóng tan như sương và mơ hồ như hư ảnh để mà nặng lòng, cúi đầu trong chia biệt. viết chữ để đưa-nhau-đi là khó lắm.
chú hiểu mà, phải không?!
*
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… chú đâu biết lần nào là thật.
giờ này, lúc ngôi đền ươm giữ và xiển dương tình yêu (của chú) thôi sáng những ngọn nến lung linh ơn nghĩa, ruột thịt, gia đình, bằng hữu thì ở nhân thế ngoài kia đã đồng loạt thắp lên biết bao ngọn nến tưởng niệm chú, từ những ngôi đền ươm giữ và xiển dương tình yêu (của riêng mình).
nơi cõi giới nào đó, chú có thấy không: người ta yêu quý du tử lê biết bao nhiêu. mỗi người còn ở lại đều có cho mình hơn một giác quan để mà phủ nhận, để mà chối bỏ cái sự gọi là: chú mất rồi.
mất hình, mất ảnh chú thì vẫn còn lại đó biết bao nhiêu di phẩm, di hoạ, di vật, di “notes” của chú, ở tại ngôi nhà Lucille, ngôi nhà Catherine, ngôi nhà Tara yên ả,… và ở tại những miền hồi ức (riêng) của những người đã có với thi sĩ du tử lê một-ngày-nào.
mất tiếng nói, tiếng cười của chú thì vẫn còn lại đó biết bao tiếng thơ, tiếng đồng âm, tiếng chia sẻ,… vang lên từ 77 tác phẩm du tử lê, đến với ký ức
nhiều thế hệ.
mất chú trên những chuyến bay (định kỳ) xuyên đại dương dài đằng đẵng, lâu dăng dẳng để về với cà-phê vỉa hè, với bờ kè sài-gòn,… thì vẫn còn lại đó một du tử lê của mưa buồn khắp Thị Nghè, của nắng Trương Minh Giảng, của lá hè tự-do và của những đêm nhớ trăng sài-gòn lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây.
mất một xác thân tứ đại ông lê cự phách thì vẫn còn lại ở nhân thế này vô số bến tâm hồn để thi sĩ du tử lê ghé đến và ở lại, mặc kệ ý niệm nhị không, tam thế, tứ thời.
bởi vậy: mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu.
chú thấy mà, phải không?!
…
vậy thì, chú hãy tinh tấn chọn lấy chọn cho mình điều chú muốn, đường chú đi, nơi chú đến,… bất chấp ảo vọng, xiềng xích, khung cấm, ranh giới và hết thẩy những khái niệm lề/biên, phải/trái, chấm/phẩy rườm rà của nhân thế.
chú rõ mà, trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… lần này là thật.
sài-gòn, tháng 10, 2019.
NGUYỄN KHẮC NHƯỢNG – Có Một Du Tử Lê Như Thế
Hầu như lần nào cặp đôi Du Tử Lê – Hạnh Tuyền về thăm VN tôi cũng đều gặp và cùng có mặt trong các cuộc tiếp xúc thân mật với những người yêu thơ Du Tử Lê ở Sài-gòn. Thỉnh thoảng chúng tôi có những cuộc đi chơi xa ở Pleiku, Vũng Tàu, Long Hải… và hầu như trên mọi miền đất nước, ở đâu cũng có người biết đến tên anh.
Anh nổi tiếng qua thơ từ trước 1975 ở miền Nam với những người yêu thơ cùng thế hệ đã đành, nhưng cái tên Du Tử Lê vẫn vang lừng với lớp trẻ ở trong nước sau này nhờ những bài hát phổ từ thơ anh, đặc biệt là “Khúc Thuỵ Du” của nhạc sĩ Anh Bằng. Bài hát phổ biến rộng rãi trong nước tới mức có không ít quán cà phê lấy “Khúc Thuỵ Du” làm tên cho quán, không chỉ ở trong các thành phố mà còn ở cả các vùng hẻo lánh dọc các tỉnh lộ hoặc quốc lộ thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp các quán cà phê “Khúc Thuỵ Du” như thế.
Nổi tiếng là vậy nhưng nhà thơ lúc nào cũng tỏ ra khiêm cung, đằm thắm khi tiếp xúc với mọi người. Anh luôn nhỏ nhẹ từ tốn trong ăn nói, nghe nhiều hơn là nói. Cho dù kẻ nói chuyện cùng anh là một người hoàn toàn “ngoại đạo” với thi ca, nghệ thuật chăng nữa thì anh cũng lắng nghe một cách chăm chú với vẻ trân trọng. Cái “nói” là vậy và cái “ăn” của anh cũng thế, rất nhỏ nhẻ với những món ăn đơn giản không cầu kỳ. Trong các bữa tiệc bạn bè chiêu đãi tại Sài-gòn, gần như anh không đụng đũa vào các món ăn thuộc loại đặc sản đắt tiền, điều anh yêu cầu duy nhất trong bữa ăn là phải có nước tương, tức xì dầu, vì anh không dùng được nước mắm. Đó cũng là điều lạ! Anh ăn rất ít, giống như những người nghiện rượu thường ăn rất ít, nhưng anh lại là người không hề uống rượu bia. Có lẽ vì vậy mà trong thơ anh gần như không thấy hình ảnh bia rượu với chất giọng hào sảng về từ ngữ mà chỉ toàn là hình ảnh thê thiết về các cuộc tình…
Không ngoa khi nói anh là một trong số rất ít những người làm thơ tình hay nhất Việt Nam, nhất là các bài thơ anh viết sau 1975 trong giai đoạn định cư ở hải ngoại, rất sâu lắng với thi từ và bút pháp riêng rất “Du Tử Lê”.

Thế rồi nhà thơ đa tình hồn nhiên ấy đột ngột ra đi, để lại nhiều tiếc thương cho những người quen thân cũng như chưa quen thân với anh. Từ trước tới nay có lẽ chưa có một cây bút nào ở hải ngoại khi mất đi lại được nhiều tờ báo lớn, nhỏ trong nước viết bài đưa tin một cách rộng rãi và nhanh chóng như khi nhà thơ Du Tử Lê nằm xuống. Anh đã chia tay thế nhân và an nghỉ ở ngoài “cõi người ta”, nhưng thơ anh, nhất là các ca khúc phổ nhạc từ thơ anh, ắt sẽ còn sống lâu với nhiều thế hệ người Việt trong nước…
Sài-gòn tháng 10/2019
VŨ THƯ HIÊN – Du Tử Lê, một cõi cho mình
Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn.
Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay… mà vẫn cứ có những nhà thơ, những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller… đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ – đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.
– Dũng cảm gì đâu. – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở, thì đúng hơn, ông ạ. Khốn nạn, tôi, và tất cả tụi làm thơ chúng tôi, chạy không nổi khỏi nó. Nó là cái nghiệp, là sự chìm đắm vừa đau đớn vừa êm đềm, một thống khoái khó hiểu, đối với nhiều người, không trừ chính kẻ làm thơ…
Chúng tôi ngồi ở một bàn ngoài của một quán cà phê với một loạt ghế trên hè, rất Paris, ngay trước tượng Thần Tự Do giương cánh trên đài kỷ niệm Bastille. Quán cà phê bình dân này không phải là La Rotonde ở Montparnasse, nơi những danh nhân lịch sử của nước Pháp từng lai vãng, nhưng vào buổi chiều thu ấy cũng đông nghịt, bên trong không còn một bàn trống. Du Tử Lê xuề xòa, nói ngồi ở các bàn ngoài thú hơn, giống ở Sài Gòn hơn. Vừa nhàn nhã nhâm nhi ly expresso, ngắm cảnh xe cộ bá tính tấp nập ồn ào trên quảng trường ghi dấu cuộc cách mạng vĩ đại 1789, vừa bàn về văn chương thơ phú, thật thú vị.
Hình như các nhà thơ đều hiền lành. Tôi chưa gặp một nhà thơ dữ tợn nào. Những người dữ tợn không làm thơ. Tôi đòi Du Tử Lê đọc một bài thơ mà anh ưng ý hơn cả. Du Tử Lê nhìn tôi như cách người ta nhìn một con quạ trắng.
– Bài nào tôi cũng khoái, nhưng chỉ trong lúc đang làm ra nó thôi. Bài ưng ý nhất là bài mà mình sắp làm cơ, ông ạ.
Ấy là người đã có một lượng tác phẩm đồ sộ, hơn bốn chục thi phẩm, nếu tôi không nhầm, nói thế. Nhưng chiều tôi, Du Tử Lê ngâm se sẽ vài câu:
đêm về theo bánh xe qua
nhớ em Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào…
Nhớ Sài Gòn khi Paris sống động trước mặt là trúng lắm. Chẳng có nơi nào gợi nhớ những thành phố quê hương bằng Paris. Cách chúng tôi mấy bước là một cái nắp cống bằng gang in hệt những nắp cống trên hè Hà Nội hay hè Sài Gòn, đọc những hàng chữ trên nắp cống mới biết chúng cùng một lò sản xuất. Mấy chiếc lá vàng lềnh bềnh trên dòng nước rãnh dọc hè, y như ở Hà Nội.
Người đọc biết đến Du Tử Lê không phải với tư cách nhà thơ lục bát truyền thống, hoặc thơ mới các kiểu hàng loạt. Du Tử Lê được thiên hạ biết đến, được nhớ đến, là nhờ những bài thơ không vần với những chấm, phẩy, gạch nối, ngoặc đơn, ngoặc kép và những ký hiệu toán học. Những cái đó là tốt, là xấu, là hay, là dở, tôi không bàn. Trong địa hạt này tôi là kẻ ngoại đạo. Nhưng điều tôi thấy rõ là Du Tử Lê đã và đang làm một cái gì đó chưa từng có. Anh là kẻ khai phá. Cái mà anh đang khai phá rồi đi đến đâu là chuyện về sau. Nhưng ngay bây giờ tôi đã bắt gặp đâu đó những người theo chân anh. Như thế, anh không hề đơn độc.
như / con sông / sẽ không ra biển!??
nhan sắc đi / về ngang vết thương.
thịt / da từng tấc chăm, nuông nghiệp –
mỗi ngón tay:
– thơm một nỗi niềm.
như mưa / nắng / sẽ không cư, ngụ!?!
lọn tóc xin tình mãi thiếu niên –
nuôi vai chia nhánh vào ly, biệt…
thương, nhớ nào xanh(?)
những mặt bằng!?!!!
Tôi không hỏi Du Tử Lê vì sao những dấu chéo (/) đặt giữa những chữ như / con sông / sẽ không ra biển…; vì sao giữa từ kép ly biệt lại phải có một dấu phẩy ngăn cách để thành ly, biệt; cũng như tôi không hỏi vì sao sau câu như / con sông / sẽ không ra biển!?? lại có một dấu than với hai dấu hỏi, mà ở câu thương, nhớ nào xanh(?)[xuống dòng] những mặt bằng!?!!! sau một dấu than, một dấu hỏi lại có đến ba dấu than nữa?
Tôi không hỏi vì không muốn Du Tử Lê phải dằn lòng cắt nghĩa cho tôi rằng thơ là cái để mà cảm, chứ không phải cái để mà lý giải. Trong cái sự cảm ấy, tôi thấy, hoặc tôi lơ mơ hiểu dường như Du Tử Lê muốn dùng những ký hiệu toán học, những dấu biểu cảm ngữ nghĩa như một cách chơi nhạc, để ngắt chữ ngắt câu, để nhấn mạnh, để khêu gợi, để bắt người đọc đi tiếp con đường suy tưởng của/cùng anh (tôi dùng một dấu chéo theo cách Du Tử Lê rồi đấy). Cái “thi tại ngôn ngoại” của Du Tử Lê phong phú, nó gọi ta bước qua những chữ cụ thể để lướt đi xa hơn nữa trong liên tưởng, như từ một nốt nhạc nẩy lên ta nghe vang vọng một toàn hài.
Cái mà người đọc cảm được, thấy được trong thơ Du Tử Lê là những cảm giác Du Tử Lê cũng là cảm giác của mình, dù đó là những suy tưởng về ý nghĩa thời gian, tình nhân loại, những niềm vui hồn nhiên, những phút buồn vô cớ.
rất nhiều khi tôi khóc một mình
những hạt lệ không giúp ai no
những hạt lệ không làm ai đỡ đói,
nhưng nó vẫn là những giọt lệ
chính nó,
một mình –
không có tôi đứng cạnh.
thay vì cloning cho tôi con cừu
hãy tạo sinh vô tính cho tôi buổi chiều,
quê cũ.
một lần trong đời nhau
đêm, nghìn sâu tiếng gọi
ngọt ngào gối, chăn đau
thịt, da gào kiếp mới
soi mặt gương đời, sau
giọt máu còn chói lọi
một lần thân thể nhau
tôi rạng ngời: địa ngục!?!
nuốt trọng chính mình, như ngọn lửa
cháy một tôi: kẻ tự lột da
nhìn em: chảy máu trong yên, ắng
nghe giữa bọng cây: rộ đóa hoa.
Tôi viết: Du Tử Lê không đơn độc trong sáng tạo, trong khai phá một lối đi mới cho chính anh, độc đáo trước hết cho chính anh, không cần ai chấp nhận.
Cũng cái cung cách như thế ở trong nước có Dương Tường, một hồn thơ gần gụi với Du Tử Lê. Dương Tường cũng khai thác âm hưởng của những con chữ trong thơ, với những hàm ý không dễ hiểu, và dường như không cần ai hiểu. Dương Tường có những câu thơ thế này:
tôi nhìn nước Mĩ
qua mềm mại em phi lí
chéo
qua phụ khoa em hơ hớ
chéo
qua nhục dục em ngao ngán
chéo
qua thân hình em ngạo ngược
chéo
qua năng động em vô vọng
chéo
qua nụ bè he em bối rối
chéo
Có Trời hiểu những chéo in đậm nọ mang nghĩa gì. Trong tập “Thơ Dương Tường” (xuất bản năm 2005) có một câu “chẳng thể nào xuất” với hai gạch chéo hình chữ V nằm ngang (<) đi tiếp chỉ vào hai chữ “tinh” và “thần” để ta có thể đọc theo hai dị bản “xuất tinh” và “xuất thần”, hoặc gộp cả hai lại: “xuất tinh thần”; trông cứ như một công thức cấu tạo phân tử. Có khác gì Du Tử Lê với những ký hiệu toán học đâu. Trong tình hình nhiều năm mọi kênh thông tin trong ngoài bị đóng kín, hai người không được đọc thơ của nhau, nhưng Dương Tường và Du Tử Lê đều có những hoài bão khai phá như nhau và lối khai phá khá giống nhau. Về sự sử dụng nhạc tính trong thơ hai người hơi khác nhau chút ít. Có thể nói nếu thơ Du Tử Lê là euphonic thì thơ Dương Tường thiên về cấu trúc dodecaphonic. Dù sao thì ở đây ta cũng thấy hiện tượng những trí lớn gặp nhau.
Ở đây vấn đề muôn thuở được đặt ra: ở đâu, cái cảm giác chừng mực của sự biểu cảm? Chưa tới thì không được. Một chút quá là hỏng.
Nhưng với chủ thể của sự sáng tạo Du Tử Lê vấn đề trên bất thành vấn đề. Tôi quen Du Tử Lê chưa đủ lâu để có thể nói rằng tôi hiểu anh thật nhiều. Nhưng tôi dám nói như thế từ những quan sát của mình qua những lần gặp gỡ bao giờ cũng ngẫu nhiên và hồn nhiên.
Tôi hỏi Du Tử Lê:
– Khi viết ông có nghĩ tới người sẽ đọc thơ ông không?
– Hoàn toàn không.
– Vậy ông nghĩ gì khi làm thơ.
– Tôi chẳng nghĩ gì cả. Một tứ thơ chợt đến, và tôi cầm lấy bút.
Thế đấy. Du Tử Lê không làm thơ, có thể hiểu như thế. Thơ tự đến với Du Tử Lê, như cái duyên số phận, có đi tìm cũng không thấy, muốn chế tạo cũng không được. Trong Du Tử Lê mọi điều kiện cần thiết cho thơ đã có sẵn để cho thơ nảy nở. Cái sự khai phá mà tôi nói đến ở trên cũng nằm trong cái duyên ấy, không phải do một ý chí nào. Chính vì vậy mà Du Tử Lê làm thơ không quan tâm đến đối tượng sáng tạo, không cần biết họ hiểu được hay không hiểu, cảm được hay không cảm được.
Trong cõi riêng của mình.
NGUYỄN ĐÔNG A – Du Tử Lê, “khi tôi chết nỗi buồn cũng hết”
Nhà thơ, cây đa Du Tử Lê, “ông Ngoại lên trời rồi !” (Roll nói). Độc giả nhiều nơi trong nước tổ chức tưởng niệm, bạn văn tiếc thương viết về cuộc đời, những bài thơ nức tiếng, viết về kỷ niệm, giao tình với ông. Và tôi cũng viết, đợi văng vắng, lắng, viết một cảm nhận, đứt đoạn, lặng, tiễn ông.
Du Tử Lê, con người của tình cảm, yêu thương, lãng mạn, phóng khoáng, khi thương ai thì thương tận, thương trong thơ, trong đời, người đi qua đời ông. Ông không lẫn tránh điều riêng tư, cảm xúc thơ từ chất tự sự, đậm đà tâm tình với những cái tên cụ thể như, “thụy ơi”, “T, à”… Riêng tư mà ngôn từ được chắt lọc, cẩn trọng, điêu luyện qua tư duy nghệ thuật, đồng điệu với tình cảm nhiều người, có khi còn đánh động đến cả những con tim không đồng thế hệ. Tác giả từng nói đôi chút về điều này, khi tôi viết cảm nhận về thơ ông, bài “Trong tay thánh nữ có đời tôi”, ông phản hồi:
“Thưa ông Nguyễn Đông A,
…
Tôi muốn được ngỏ lời cám ơn ông, cũng như đã từng cám ơn những thiện cảm của các tác giả khác, dành cho một số thơ của tôi. Riêng bài viết của ông, vô hình chung đã cho độc giả của ông, một số điều mà những tác giả khác tuy cũng viết về bài thơ trên, đã không đề cập tới.
Điển hình, trong bài của mình, ông viết:
– Hai chữ “Thánh nữ”, tuy là một chỉ-định-từ nhưng nó lại có một biên độ lớn – – Không nhất thiết phải là một người nữ được xác-định nào mà, có thể là biểu tượng của nhiều người nữ khác nhau trong tôi (cũng như trong mỗi chúng ta.)
…”.
(Du Tử Lê – Garden Grove,17 tháng 8-2015.)
Ông là vậy, một người thân thiện, giao tiếp đúng mức, đôi khi khách khí, thận trọng, một người nhiều chữ nghĩa.
Tôi thường viết về nỗi cô đơn, nỗi cô đơn của người luống tuổi, đẫm nỗi buồn. Trong bài “Cô đơn”, Du Tử Lê cũng viết:
“tôi ngồi trong nỗi tôi riêng
bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng rời
…
tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn sóng lao xao
biển muôn năm gọi tôi nào có vui
người về có nén hương, thôi
cắm lên phần mộ hồn tôi úa vàng
tôi-ngồi-trong-cõi-nhân-gian” (Du Tử Lê)
“Nỗi tôi riêng” này, nỗi cô đơn dù có hay không có người thân bên cạnh, ở ông, triền miên, bất tận, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”, dù có Em, bên Em, biết ơn Em. Như thơ đăng trên Facebook vợ, ông viết:
“nghìn năm nữa, tôi vẫn là đứa trẻ,
cần bàn tay của mẹ thuở lên năm.
như mưa / nắng rất cần cho cây, trái;
em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình.”
(Du Tử Lê)
“Hồn Tháng Chạp, cuối đời khua tiếng gậy.
Em từ tâm còn đủ lượng bao dung?”
(Du Tử Lê)
Tưởng chừng như ông vẫn lơ ngơ, lóng ngóng, ít biết làm gì cho mình ở thường nhật, cần Em “bao dung” giúp đỡ, phải chăng thơ đã chiếm hết, nhưng đâu vậy mà thiếu chân tình. Ông, đời thường,
“Anh cất ½ bát phở trong tủ lạnh
– Khuya T. dạy, dù lười mấy, cũng ráng ăn, T. à.” (Du Tử Lê),
chỉ chút chữ thôi bao ân tình.
Tôi và ông biết nhau từ cảm nhận văn chương, thi ca. Ông trân trọng, dù tôi chỉ là “vạt cỏ bên đường”, thường thường, võ vẽ. Ông từng giới thiệu truyện ngắn, bài viết, sách của tôi trên website và báo chí ở Mỹ. Ông viết:
“Tôi vẫn cho rằng, trong mỗi con người, luôn có nhiều hơn một nhân thân. Nói cách khác, mỗi chúng ta thường có nhiều hơn một bản ngã.
Nhưng hiếm khi những bản ngã ở một con người đó, lại mang tính đối nghịch, quyết liệt, tựa Thiên đàng và Địa ngục như trường hợp của nhà văn và, cũng là nhiếp ảnh gia Nguyễn Đông A – – tác giả bộ ảnh nghệ thuật “Lấp Lánh Áo Hoa” và, tập truyện cùng cảm nhận văn chương, nhan đề “Lơ Thơ Vạt Cỏ”. Riêng với tôi, nếu “Lấp Lánh Áo Hoa” là những bức hình cho thấy tâm hồn nhậy cảm của Nguyễn Đông A trong ống kính – – Để khi những bông hoa được in ra trên trang giấy hoặc trong không gian ảo của facebook, tự thân, đã có được cho riêng nó, phần phấn-hương-thiên-đàng. Một thành tựu mà không phải bất cứ một nhiếp ảnh gia nào cũng có thể đạt được.
Tôi gọi những trang ảnh hoa, của Nguyễn Đông A là những phấn-hương-thiên-đàng vì tính lung linh, hư ảo, trong suốt và, tinh khiết đầy nghệ thuật của chúng – – Tựa như đó là hình ảnh, đường nét của một thế giới ở ngoài cõi nhân gian này!?”
Nhưng khi bước vào cõi-văn-xuôi Nguyễn Đông A thì, đó lại là một thế giới khác nữa. Một thế giới ở ngay cõi nhân gian này. Mà nó lại là phần chìm khuất, phần bóng tối đôi khi nhầy nhụa thực tế đời thường. Với tôi, “thế giới nhầy nhụa đời thường” của họ Nguyễn gần với Địa ngục trần gian, mặt khác của ảo ảnh Thiên đàng… Mặc dù như ông đã khẳng định rằng, “xã hội nào cũng vậy, bên cạnh những điều hay, thế nào mà không có những điều chưa hay…”.
Ông viết về tôi như thế, thật cảm ơn ông. Nhưng về ông, với tôi, ông chỉ có một bản ngã duy nhất, bản ngã yêu thương, với bạn bè, người thân, bản ngã yêu thương sâu lắng trong thơ, “chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời”.
Ông đi.
Thôi thì, cảm nhận một chút về “Cõi tôi”, có thể đây là một bài thơ mới được đăng trên “Viết & Đọc”, chuyên đề mùa thu ở Việt Nam.
“Cõi Tôi,
cõi tôi, cõi nát, cõi tàn
cõi hoang mang, vội, cõi bàng hoàng, qua
cõi vui thân thể cỗi già
cõi lang thang mượn mái nhà hư, không
cõi xanh, cõi lạnh, cõi cùng
cõi con, muốn bỏ, cõi chồng, vợ, xa
cõi em muốn dạt chân về
cõi đau nhân thế, cõi thề thốt, quên
cõi nào, cõi thật? tôi riêng?
cõi đêm máu, chảy, cõi thương nhớ, trùng
cõi tôi, cõi mịt, cõi mùng
thôi em có ghé xin đừng nghỉ, lâu
cõi đời đó, có chi đâu!” (Du Tử Lê)
Bài thơ lục bát mà không phải lục bát, với cách viết của riêng ông, khác lạ, cách tân, không giống truyền thống về nhịp thơ. Nhịp thơ như một phương tiện nghệ thuật diễn đạt, qua ngắt, nhấn. Mạch thơ dạt dào cảm xúc, trải lòng. Và điệp từ “cõi” được lặp đi lặp lại nhiều lần, nhấn và nhấn, là chủ đề, như trọng điểm của bài thơ.
“Cõi” thông thường được hiểu là khoảng không gian rộng lớn tồn tại thứ gì đó. “Cõi” trong thơ ông là “cõi tôi”, chính ông, với quá “thất thập”, già, qua sự bào mòn của thời gian, ông cảm nhận được rằng, rồi thì cũng nát tan, “cõi nát”, “cõi tàn”, âu cũng là qui luật của tạo hóa. Nhưng “cõi” trong mối quan hệ nhân gian, với nhân thân, hay nói rộng ra, trên “cõi nhân gian” này luôn có biến động, lúc này lúc nọ, lúc “con, muốn bỏ”, lúc “chồng, vợ, xa”, lúc “thề thốt, quên”, mà thật vậy, có gia đình nào mà không có chuyện, đâu phải lúc nào cũng “cơm lành canh ngọt” đâu. Từng “hoang mang”, qua “bàng hoàng”, nhưng mọi thứ rồi, đều là “hư không”.
Chính dòng thơ “cõi lang thang mượn mái nhà hư, không” là một dòng thơ hay từ lối chẻ và ngắt từ của ông. Từ ghép “hư không” được hiểu là không có gì cả, nhưng trong dòng thơ lại từ một hình ảnh cụ thể “mái nhà hư” và “không” được ngắt, mở rộng nghĩa. Từ một hình ảnh cụ thể, nâng lên tư duy trừu tượng, một triết lý.
Mấy dòng thơ cuối bài cũng hay:
“… cõi tôi, cõi mịt, cõi mùng
thôi em có ghé xin đừng nghỉ, lâu
cõi đời đó, có chi đâu!”
Mông lung, mịt mùng, vốn là đời ông, ông lại chẻ từ “mịt mùng” để nhấn về “cõi” đời mình. Ông đâu muốn người mình thương “ghé” “lâu”, trái ý muốn thường tình, hay là sợ Em khổ, mà muốn, được đâu, “nát” “tàn” rồi. Lại như nói lẩy: “cõi đời đó, có chi đâu!”. Quả thật vậy, thời gian, “có chi đâu!”, rồi ông sẽ đi, và ông đã đi. “Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết”.
Ông, một người anh, “cõi tôi” đi thanh thản, thời gian dừng, ở tuổi 77, để lại 77 tác phẩm cho đời.
Xin tiễn ông, cây đại thụ thi ca miền Nam, mà chỉ vài người, như Nguyên Sa, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền… mới có thể sánh ngang bằng. Xin gởi vài bông hoa, “những phấn-hương-thiên-đàng”, như cách ông nói, theo ông ra ngoài “cõi nhân gian” này, đến thiên đường yêu thương.
Maryland, mùa thu 2019.
PHẠM PHÚ THIỆN GIAO – Từ những lần cà phê với Du Tử Lê
Có lần tôi nói với một người bạn, “giới thi sĩ, những thi sĩ “thứ thiệt”, là người sướng nhất.” Bạn hỏi “tại sao?” Tôi trả lời: “Vì họ không giống chúng ta.”
Chúng ta là ai? Là những người “bình thường”, sống cuộc sống “bình thường,” giữa dằng xé của cơm – áo – gạo – tiền (bình thường thôi!), của âu lo, của khắc khoải; và của cả những khoảnh khắc hạnh phúc cũng rất đỗi… bình thường.
Thi sĩ họ khác. Họ sống trong thế giới khác, rất riêng. Họ cũng có thể đối mặt với tất cả mọi âu lo và hạnh phúc như người bình thường chúng ta. Nhưng họ nhận thức mọi điều ấy ở một thái độ khác. Có một cái gì như trực giác và bản năng. Hành xử qua trực giác hay bản năng là khuynh hướng của người tự do. Với thi sĩ, càng tự do tác phẩm càng lớn; có khi đủ lớn để ảnh hưởng cả một xã hội; và không hiếm khi lại là lời tiên tri cho cả dân tộc trên nhiều phương diện ở một thời điểm rất xa về sau, thường được chứng nghiệm qua các biến cố lớn.
Người tự do là người sướng nhất! Trong số này, phải kể đến Du Tử Lê, và phải nhìn vào tác phẩm của ông.
***
Tôi có một hân hạnh, là được Du Tử Lê “ghé mắt” vào ngay từ bài báo đầu tiên tôi viết trong đời.
Đó là bài viết về hoàn cảnh một phụ nữ trong những giờ phút đầu tiên sau khi chồng mình, một H.O., bị cảnh sát và FBI đến bắt tại nhà với cáo buộc từng tham gia hành hung bạn tù lúc còn ở trại cải tạo tại Việt Nam. Bài báo được in ra, tòa soạn Người Việt nhận vô số thư, email, và điện thoại gọi vào. Không ai chê bài báo, nhưng độc giả chia làm hai. Bên bênh, bên chống.
Rất nhiều người đến tòa soạn để bày tỏ ý kiến mình. Trong số này có một người đến với một mục đích khác: Để xem “ông Thiện Giao” nhìn ra sao. Theo lời kể của bà Du Tử Lê sau này: “Đọc bài báo tưởng già lắm chứ sao Thiện Giao… trẻ thế.”
Từ chỗ “ghé mắt” như thế, Du Tử Lê bắt đầu dành cho tôi biệt nhãn và biệt đãi. Trong nhiều điều ông dành cho tôi, vẫn thích nhất là thi thoảng đi uống cà phê với ông.
Tôi hay ngồi cà phê một mình, thói quen có từ khi làm báo. Nghề làm báo gần như đối chọi với cái tự do của người làm thơ. Có quá nhiều nguyên tắc phải tuân thủ, về mặt lý trí. Bước ra khỏi tòa soạn sau một ngày làm việc chỉ thích được ngồi một mình. Có lẽ là nhu cầu được tự do – một thứ bản năng.
Ngồi với Du Tử Lê thì cũng gần như ngồi một mình. Vì ông ít nói, thỉnh thoảng hỏi vài câu, rồi ông cười cười; bắt chân chữ ngũ, nhìn bâng quơ ra đường. Ông người nhỏ thó. Tuổi càng lớn thì hình hài càng rút lại. Những hôm trời California trở lạnh, thu người lại, ngồi vắt chân chữ ngũ, trông ông lại càng nhỏ hơn. Du Tử Lê chỉ chọn những quán vắng khách. Đó lại là “gu” của tôi. (Little Saigon có quá nhiều những quán cà phê mà cứ bước chân vào là gặp người quen. Nghe toàn những chuyện… bình thường, rất mệt). Ngồi với Du Tử Lê thì cảm giác gần như tự do tuyệt đối!
Bao nhiêu biệt nhãn là thế, nhưng cũng có lần ông bực mình tôi (lần duy nhất). Tôi sẽ không kể cái bực mình ấy ra đây. Tôi muốn giữ riêng một kỷ niệm với ông – chỉ tôi và ông. Và tôi nghĩ, bên cạnh 99% chất tự do trong Du Tử Lê, hãy cho ông thỉnh thoảng trở lại 1% cái chất của người bình thường. Điều bực mình ấy có lẽ đến từ khoảnh khắc 1% còn lại. Rồi ông cũng quên nhanh. Người tự do, tự do cả với những phiền muộn.
Lần cuối cùng tôi nói chuyện với ông là cách đây gần một năm. Tôi đang sống tại Virginia. Đêm ấy tôi cùng các bạn hữu đi nghe nhạc. Chương trình có bài “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn.” Bỗng có người hỏi, “Đêm về theo bánh xe lăn” hay “đêm về theo vết xe lăn”. Tôi cầm điện thoại, gọi cho bà Du Tử Lê, xin nói chuyện với ông Du Tử Lê. Nhận được điện thoại tôi ông vui lắm. Rồi ông trả lời, “cả hai.”
***
Trong một bài viết lâu lắm rồi, tôi có nói với ông, rằng, “với thơ, tôi là người ngoại đạo.”
Nay ông đã ra đi; tôi không kịp nói với ông một “tin vui”. Tôi đã mon men đi vào “đạo thơ”, trong tư cách người thưởng ngoạn. Du Tử Lê và một vài tác phẩm của ông trong số các tác giả và tác phẩm đưa tôi đến gần với Thơ hơn. Tôi không phải người duy nhất. Tôi biết có rất nhiều người “chịu ơn” Du Tử Lê như thế.
Tôi thích hình dung thế này: Không nhất thiết Du Tử Lê đã chọn làm thơ. Chính thơ, chọn Du Tử Lê. Đó là nghiệp của người thi sĩ. Rồi ông mang những tác phẩm đẹp đến cho người “bình thường” thưởng thức; tạo nên duyên lành trong cộng nghiệp giữa ông và chúng ta.
Không nhất thiết phải đau buồn trước sự ra đi của ông. Mà hãy vinh danh ông, cùng cuộc đời đồ sộ những tác phẩm đã được dâng hiến cho cuộc đời này.









