Ông Lương Ngọc Tấn, xuất thân từ khóa 14 Thủ Đức. Năm 1975, ông là Đại Úy An Ninh Quân Đội VNCH. Ngày cộng sản chiếm miền Nam, như số phận của bao nhiêu Sĩ Quan trong Quân đội VNCH, ông bị bắt đi tù cải tạo. Trong thời gian 7 năm Ông bị đày ải, tra khảo, đánh đập và chuyển trại giam nhiều nơi. Chính vì thế mà khi ra khỏi tù Ông đã thề với lòng mình, sẽ không bao giờ trở về Việt Nam, ngày nào mà chế độ cộng sản còn hiện hữu. Bao nhiêu năm rời xa quê hương, nhiều khi nhớ nhà quặn thắt lòng, nhưng không bao giờ ông muốn trở lại khi mà đất nước, quê hương của ông nằm trong tay những kẻ đã gây nợ máu cho nhân dân nói chung và cho gia đình ông nói riêng.
Ông đến Mỹ theo diện HO, và bắt tay ngay vào việc ổn định cuộc sống, Ông không ngại làm lại từ đầu với nghề tay chân. Ông nhận thầu cắt cỏ cho các tư gia, một công việc khá vất vả nặng nhọc, mà sau này gần như 99.9% do người Mễ đảm nhận, trong khi rất hiếm người Việt Nam còn giữ nghề. Vậy mà Ông cũng cùng vài người bạn HO đã đảm nhận mấy năm liền. Tuy khó nhọc, kiếm đồng tiền chảy máu con mắt, nhưng Ông vui vì giúp được vợ con, và cũng là một đáp đền lòng thủy chung, nghĩa ơn của người vợ tào khang đã thay ông chăm sóc bầy con trong những năm tháng lao tù giam giữ.

Nhiều bạn bè và người thân nói với Ông, cái may mắn lớn nhất mà Ông có trong đời là Ông đã gặp được người vợ hiền thục, giỏi giang… Bà đã đồng hành cùng Ông, từ những ngày còn rất trẻ, theo chồng, chịu thương chịu khó cùng chồng, cho đến những ngày chồng bị lao tù, Bà vẫn một mực chờ chồng nuôi con. Khi Ông ngã bệnh, bà đã không rời Ông nửa bước, đút cho chồng ăn từ muỗng cháo, dìu Ông khi Ông xiêu vẹo… Ông cảm kích vô cùng tấm lòng người bạn đời chung thủy, chỉ biết đáp đền những câu thăm hỏi của vợ con bằng câu trả lời chắc nịch, anh khỏe lắm! Anh không còn thấy đau nữa, anh rất ổn, em đừng lo nhiều cho anh… Thật ra, Ông không ổn, Ông không khỏe… càng ngày Ông càng cảm thấy cơn đau đến thường xuyên hơn, nặng hơn… Nhiều khi Ông muốn cái chết đến để giải thoát khỏi những dằn vặt thể xác, để cất đi gánh nặng trên vai người vợ đã bao năm cực khổ vì chồng. Ông luôn cầu xin ơn trên cho bình an đến với vợ con, gia đình, dù mình không còn nữa.
Thật là cám cảnh người vợ, và cả những đứa con, những đứa con mà không nói ra, lòng Ông vẫn luôn hãnh diện hài lòng, chẳng phải hài lòng vì đường công danh rạng rỡ của các con, mà hài lòng vì cách sống, cách ăn, cách ở của các con đối với xã hội, với con người.
Người con đầu tiên khi chọn nghề Thầy Giáo, đã chọn con đường gập ghềnh mà di, anh chọn chuyên môn dạy những đứa bé không được bình thường. Hai người con khác là nha sĩ, thường góp mặt trong những buổi chữa bệnh từ thiện tại Việt Nam. Những người còn lại, bằng chuyên môn nghề nghiệp của mình, cũng thể hiện lòng nhân ái, ý thức trả lại cho đời những gì đã nhận. Người xưa hay nói nôm na: “Rau nào sâu nấy”. Ông đã tặng cho đời những “con sâu” mà khi thoát xác đã trở thành những chú bướm thật rực rỡ làm cuộc đời thêm xinh đẹp và ý vị.
tp

