Ông Nguyễn Xuân Bích sinh ngày 27 tháng 1 năm 1931, tại Do Mỹ, Do Linh, Quảng Trị. Năm 1953 ông nhập ngũ, khóa 3 trường Hạ Sĩ Quan, Đập Đá-Huế.
Năm 1954 ông phụ tá Huấn Luyện Viên trường Võ Bị Địa Phương Huế.
Năm 1962 ông được thăng chức Thiếu Úy, trưởng ban 3 Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân.
Năm 1965 ông bị thương, điều trị tại Bệnh Viện Cộng Hòa.
Cuối năm 1965 đến 1975 công tác tại Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (Qui Nhơn, Bình Định)
Ông trải qua các chức vụ:
-Trung Úy, trưởng ban phòng Phát Triển căn cứ
-Đại Úy, phó phòng, trưởng phòng phát triển căn cứ
-Thiếu Tá, trưởng phòng Hỗ Trợ của Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đóng tại Quảng Ngãi, Bình Định
Ông được tặng thưởng Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng, cùng nhiều huân chương khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, ông bị tù cải tạo và thời gian bị CS giam giữ là 5 năm 6 tháng 10 ngày. Trong thời gian tù đày, vợ con ông sống một cuộc sống không thể cùng cực hơn. Vợ ông để một cái tủ nhỏ đầu xóm bán thuốc lá, ông đi qua bà đi lại, ai cũng nghèo nên việc mua một điếu thuốc cũng là điều xa xỉ. Thế nên một ngày chang chang nắng gió, bà cũng chỉ kiếm được vào chục tiền lẻ để nuôi sáu con, thăm nuôi chồng trong trại cải tạo. Con cái bữa no bữa đói, chồng thì đói khát qunh năm…
Người con trai trưởng, anh Nguyễn Xuân Ngọc kể, thế rồi một đêm vào khoảng 11 giờ tối người cha tù đày được tha về, hình tượng ốm yếu, rách nát, tàn tạ đã khiến cả nhà không nhìn ra ông. Sau thoáng chốc lạ lẫm, chồng vợ cha con đã giọt ngắn giọt dài ôm chầm lấy nhau nức nở, nghẹn ngào. Người con trai nhớ rằng, ngay sau đấy anh đưa Ba ra đầu ngõ để ăn tô mì gõ bình dân. Ba anh ăn ngon lành như một đứa trẻ háu đói. Đó là hình ảnh khắc ghi trong trí mà chẳng khi nào phai nhạt trong anh.
Rồi thì người cha còm cõi, giơ xương ấy, không kịp nghỉ ngơi, đã lao vào cuộc kiếm cơm. Cũng may trong thời gian tù đày, ông học được ít nghề mọn, đóng bàn ghế, đan rổ rá, thúng mủng… Ông đem nghề mọn kiếm cơm phụ vợ nuôi bầy con. Mặc dù sức khỏe bào mòn trong những tháng ngày bị giam giữ, ông cũng ôm đồm làm thêm thợ hồ, vì nghe đâu nghề này kiếm cơm khá hơn. Thương là đứa con trai mới 14 tuổi, Nguyễn Xuân Dũng, cũng đành nghỉ học theo cha kiếm cơm.
Ông là tấm gương lớn để các con noi theo: Hiếu thảo với cha mẹ, chung thủy với người phối ngẫu, hy sinh thương yêu đùm bọc các con… Ông cũng hay ôn lại quá khứ, dòng tộc để nhắn nhủ các con phải biết giữ mình, phải biết cha ông đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được một “Cây dòng tộc” tốt tươi từ gốc đến cành, đến nhánh… và nay, cây đã có những trái tốt tươi, là những đứa cháu thông minh, đỉnh ngộ, giỏi giang…
Ông sống trọn vẹn với gia đình. Với tổ quốc ông là một quân nhân đối diện với lằn tên mũi đạn, là một cấp chỉ huy gương mẫu, xông pha, không nề hà nơi tuyến đầu. Ông không đẩy những thuộc hạ đi trước để che chắn hiểm nguy cho bản thân, mà hiên ngang dấn bước cùng đồng đội và thuộc cấp. Ông được thuộc cấp, đồng sự yêu mến và kính nể là do cách sống chan hòa, không cách biệt ích kỷ.
Một điều thú vị, ông còn là một nhà thơ, với bút hiệu Như Khuê. Ông làm thơ không nhiều, nhưng ẩn chứa nhiều tình nặng nghĩa sâu.
-Dành cho quê hương:
Có ai về Quãng Trị
Cho ta gửi lời thăm
Nơi quê cha đất tổ
Đã lưu lạc nhiều năm
-Dành cho Mẹ:
Hoa hồng theo gót khắp nơi
Mẹ ơi, hồn Mẹ hiện thời nơi đâu?
Thương nhớ Mẹ âu sầu giọt lệ
-Dành tặng vợ
Kể tử dạo nơi quân trường Đập Đá
Áo Trây Di, xanh màu lá hoa rừng
Chân bước theo nhịp bước quân hành
Miệng ca khúc câu Lục Quân muôn thuở
Chúng mình đã gặp nhau ngay chính giữa
Chốn Cố Đô cạnh núi Ngự sông Hương
Mắt nhìn nhau với nhất dạ tơ vương
-Tự thán:
Ta còn lại gì cho ta
Vinh quang tủi nhục đã qua một thời
Giờ còn kỷ niệm mà thôi
Niềm đau dĩ vãng bồi hồi tâm tư
Ngày 4 tháng 9 năm 2019, sau một cơn bạo bệnh, ông ra đi trong an bình thanh thản để lại bao tiếc nhớ cho gia đình, đồng đội, bằng hữu. Cầu mong chư Phật đón nhận phật tử Quãng Thiện nơi cõi Niết Bàn.
tp

