Xin tiễn một tài hoa

Kim Võ

Trung Tá Cung Thức Cần, trưởng Phòng Kế Hoạch của binh chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, vừa tạ thế, thọ 90 tuổi. Ông là người Hà Nội, di cư vào Nam năm 1949, làm thơ từ năm 15 tuổi, được người đời biết đến nhiều qua bút danh Cung Trầm Tưởng.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng. (Hình: Hạnh Tuyền/Người Việt)

Cung Trầm Tưởng học trường Tây, đỗ tú tài, học đại học được một năm thì đi du học ở Pháp, ngành Kỹ Sư Không Quân. Về nước, ông phục vụ trong ngành không quân. Năm 1962, ông đi du học Hoa Kỳ một lần nữa để học về khí tượng. Cấp bậc cuối cùng năm 1975 của ông là trung tá.

Dù thuộc binh chủng Không Quân, nhưng ông “kẹt” lại Việt Nam ngày 30 Tháng Tư năm 1975, bị mười năm tù cộng sản, quản thúc ba năm. Năm 1993, ông và gia đình được định cư ở Hoa Kỳ diện H.O.

Với một kẻ hậu sinh và thô lậu, ít học như cá nhân chúng tôi, không đủ khả năng và tư cách để viết về ông ấy. Tuổi trẻ miền Nam có ai mà không nghêu ngao một lần câu: “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế. Trời mùa Đông Paris, suốt đời làm chia ly…”

Thật ra, lời thơ của ông không như bài nhạc mà cố nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Ông làm bài thơ này lúc ông còn quá trẻ. Tuổi 20, đẹp trai phong độ, dù là dân thuộc địa, nhưng cũng đã làm cho những em tóc vàng sợi nhỏ, mắt nâu đem lòng yêu.

Trường phái thi ca lãng mạn đã được nhà thơ Cung Trầm Tưởng nâng lên tột đỉnh, và nó đã trở thành một khuynh hướng cho lớp người thời đó.

“Đem chuông đi đấm xứ người

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.”

Người Hà Nội xưa có khác.

Chiến cuộc kết thúc bẽ bàng trong tủi nhục. Văn học miền Nam với những tài hoa như nhà thơ Cung Trầm Tưởng, bị đày đọa trong tù. Đây là thời điểm hồn thơ bật máu.

Nếu nhà thơ Tô Thùy Yên với trường thi “Ta Về,” trong đó có câu :

“Vĩnh biệt ta, mười năm chết dấp

Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn xưa…

Mười năm mặt dập soi khe nước

Ta hóa thân thành cổ vượn xưa…”

Thì cố nhà thơ Cung Trầm Tưởng với những lời thơ phẫn nộ hơn mà cựu Trung Tá Võ Ý gọi là “Nộ Thi.”

Cái gì đã làm cho một hồn thơ lãng mạn như Ông Cung Trầm Tưởng phải phẫn nộ? Chúng ta hãy cùng nhau đọc những lời Nộ Thi của cố trung tá.

“Đời tù bất trắc mây vô định

Lá cỏ ngày nào sẽ rụng rơi

Phiến tròn sẽ gãy khô từng phiến

Giữa chốn hoang vu tịch mịch đời.”

Và đây là một nét riêng của nhà thơ lãng mạn Cung Trầm Tưởng. Dĩ nhiên, khi trở thành tù nhân của cộng sản, họ bị đày đọa, bỏ đói, bịnh tật không thuốc men, bắt lao động khổ sai, mục đích là dùng cực hình để giết lần mòn những người thua trận, họ phải phẫn nộ:

“Cái đau vì nắng rần rần

Vì thâm thù mới rần rần gớm hơn

Mồ hôi tuột cán cuốc trơn

Nắm cho chặt nỗi căm hờn này nghe

Một nhát quắm sâu dang đứt phựt

Nghe vùi hun hút một phiền âu

Hai nhát tông bay rên xiết nứa

Nghe chôn u uất bốn buồn rầu

Một quắm, hai tông, ba phạt núi

Bốn tông năm quắm sáu băng rừng

Từng ấy rừng băng chân cứng đá

Mai về đạp vỡ cửa lao lung

Hãy chặt chặt sâu tông phắt phắt

Hãy phang phang gắt quắm ào ào

Mai về đạn nhảy ngay nòng súng

Trực chỉ đầu thù nổ thật mau.”

Lời thơ thật phẫn nộ! “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”

Nhà thơ Tô Thùy Yên trong trường thi “Ta Về,” có nói lên niềm mơ ước rằng khi chiến tranh tàn, toàn dân cùng chung sức chung lòng dựng lại giang sơn:

“Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa

Làng ta ngựa đá đã qua sông

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc bể dâu này.”

Chỉ có những tâm hồn trinh bạch mới nghĩ được như thế, nhưng không, đòn thù của những người thắng trận, bủa xuống đầu anh em. Không thù hận mới lạ?

Hơn 200 ngàn tù nhân thuộc diện Quân Dân Cán Chính miền Nam bỏ xác trong tù. Không hận mới là lạ.

Nhà thơ lãng mạn Cung Trầm Tưởng có những lời thơ như thế này về chế độ:

“Nó cõng vua Lê và Chúa Mác

Về quê cha, giết mẹ hiền lành

Tang sô bạc trắng đầu con trẻ

Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tanh.”

Nếu nhà thơ Tô Thùy Yên nói về đất Bắc trong những ngày tháng đó:

“Chỉ có thế trời câm đất nín

Đời im lìm đóng váng xanh xao:

Thì nhà thơ Cung Trầm Tưởng lại đi vào chi tiết hơn:

“Bàn thờ gỗ tạp chung ba ảnh

Mốc ẩm thời gian mắt nhạt nhòa

Giấy chứng nhận chồng là liệt sĩ

Hai con: bướm mộng về cùng cha”

Nhà thơ Tô Thùy Yên khi được thả về:

“Ta về nghe tiếng kêu đồng vọng

Rau mác lên bờ đã trổ bông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa

Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu

Đau khổ riêng gì nơi gió cát

Hè nhà bụi chuối thức canh thâu.”

Thì nhà thơ Cung Trầm Tưởng lại rõ ràng và tách bạch hơn:

“Đêm Kinh Tế Mới ngủ bờ

Về thành phố cũ ngủ nhờ sân ga

Ngủ công viên, ngủ tha ma

Xóa tên “hộ khẩu ” ngủ nhà vạn gian

Ngọn đòn lý lịch ly kỳ

Cha là ” Ngụy” phạm trường quy con rồi”

Nguyệt Ánh với nhạc phẩm Cái Cò:

“Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng nuôi đủ đàn con

Cái cò ngày nay không còn gánh gạo

Bán giọt máu đào khoai sắn cầm hơi.”

Thì Cung Trầm Tưởng:

“Có chồng mà tưởng như chồng mất

Hương nhang đã cháy ở trong lòng

Em là dòng dõi nàng Tô Thị

Nghìn năm hóa đá vẫn chờ mong

Tóc vấn phong ba em đứng mũi

Một thuyền lèo lái cõi Càn Khôn”

Và thê thảm hơn:

“Liềm thù lại hái thêm cô phụ

Chồng chết nằm co mảnh chiếu tù.”

Những tù nhân chính trị thuộc hàng ngũ Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa là những tinh hoa của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Cho dù ở phương diện nào, họ cũng hơn hẳn những người thắng cuộc. Từ văn thơ đến quân sự, hành chánh, giáo dục, điều hành quốc gia.

Nhưng có lẽ là vận nước lâm vào thời mạt vận. Ông Cung Trầm Tưởng là một người trong thế hệ đó, một thế hệ sắp mai một. Những chuyến tàu thiên cổ đang chờ họ. Nhưng đó cũng là chuyện bình thường sinh lão bịnh tử.

“Đất gọi người đi buồn biết mấy

Sông dài chỉ chảy một dòng thôi.”

Cầu cho linh hồn cố trung tá yên nghỉ. Bài viết của kẻ hậu sinh thất phu này như một nén nhang lòng tiễn đưa Trung Tá.

“Gió lên như địch thổi

Đưa ai qua  trường giang

Nay cô liêu bạt ngàn

Tiễn ta vào bất tử

Đau thương là vinh dự

Chân đi hất hồng trần

Anh hùng phải quên thân

Hy sinh là tất yếu.”

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng, tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Mùa Thu Paris,” “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”… qua đời lúc 4 giờ 27 phút, chiều 9 Tháng Mười, tại bệnh viện United Hospital, thành phố Saint Paul, tiểu bang Minnesota.

[disqus_shortcode_codeable]

Ông Đặng Quốc Bảo

Phật Tử Phạm Huy Mỵ

Ông Martino Bùi Duy Tân

Ông Trần Văn Đệ

Phật Tử Phạm Đình Mai

Bạn Giuse Đào Đức Long

Bà Lê Thị Như Loan

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (3)

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (1)

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (2)

Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa

Cụ Ông Phạm Văn Khỏe

Bà Nguyễn Thị Thúy Ban

Bà Quả Phụ Lê Khánh

Ông Lê Thành Long