Vàng Ðen (Kỳ 30)


Kỳ 30


 


“Không lo, đương nhiên anh cũng phải chia chác với chúng, lại nữa chúng rất cần vũ khí và trụ sinh. Anh sẽ cung cấp cho chúng những thứ đó. Tôi đã có sẵn nguồn cung cấp những thứ đó cho anh.


Chúng sẽ đến từ Thái Lan, Chiang Mai. Ðiểm chính tôi muốn anh phải bắt liên lạc được với một người đàn bà Việt sinh sống tại Lào từ thuở nhỏ. Khi xưa, bà ta đã từng giải quyết tất cả những chuyến thuốc phiện cho tướng Hoàng Thao của Mèo. Giờ đây tướng Hoàng Thao chỉ còn bán bảo hiểm tại Ohio để sống qua ngày, chắc chắn bà ta sẽ là đường dây chính của Khun Sa. Từ đó, anh lần đến Khun Sa chắc sẽ không khó. Anh nghĩ sao?”


“Trình trung tá, tôi vẫn luôn luôn cố gắng.”


“Tốt. Kể từ ngày mai, anh sẽ biến khỏi đơn vị. Anh sẽ sống trong một căn nhà tại thành phố Los Angeles cùng tụi nhỏ của anh. Sẽ có người đến huấn luyện những chiêu mới trong giang hồ, đồng thời dạy cho anh thêm tiếng Việt Nam. Anh sẽ…”


“Trình trung tá, tôi xuất thân ban C, ban Việt văn mà trung tá. Tôi đâu…”


“Ậy, tôi chưa hết lời, tôi đâu có cho rằng tiếng Việt Nam của anh là tệ. Chúng tôi muốn anh phải học thêm tiếng Việt Nam mới. Anh sẽ học thêm ngôn ngữ pha chế từ miền Bắc vào miền Nam, đang được sử dụng hàng ngày ngoài đường phố ở Sài Gòn hiện giờ.”


“Thưa tôi hiểu.”


“Người đàn bà ở Vạn Tượng tên Lụa. Anh sẽ liên lạc với bà ta qua một trung gian. Người này chuyển thuốc phiện cùng bạch phiến cho bà ta. Hắn biết khá nhiều nhưng chưa bao giờ gặp mặt trực tiếp Khun Sa. Ðường dây chuyển thuốc về Việt Nam qua ngã Cao Miên do hắn cầm đầu. Anh sẽ làm sếp sòng hắn, hữu danh vô thực. Không lo về việc trung thành của hắn đối với tôi vì chúng tôi đã có nợ giang hồ.”


“Trình trung tá, khi nào chúng tôi sẽ đi Lào?”


“Sau khi anh được tái huấn luyện về vài chi tiết bên Việt Nam, Lào cùng tình hình tổng quát những đường dây vận chuyển ma túy quanh tam giác vàng. Còn gì thắc mắc nữa không?”


“Ngay bây giờ thì không, trình trung tá, tôi sẽ hỏi thêm khi nào tôi nghĩ đến.”


“Anh có thể cho tôi biết thêm về đứa em tên Rật của anh. Hồ sơ của nó rất sạch. Anh gặp nó ở đâu?”


“Trình trung tá, thằng này ly kỳ lắm. Hắn người Quảng Ngãi. Lính bộ binh, năm 75, đơn vị của hắn bị bể, chạy tuốt ra đến Sa Huỳnh. Hắn leo được lên tầu Mỹ, rồi cũng lang thang bên Mỹ như tôi. Tôi nhớ khoảng bốn năm trước, hắn…”


Phong nhớ bốn năm trước, tại khu phố Bolsa, nơi người Việt tỵ nạn quây quần buôn bán cũng là lúc khu phố đạt được cái sầm uất nhất của nó. Phong đang ăn một tô cháo, bỗng có kẻ chìa một bàn tay nhem nhuốc, dơ bẩn trên bàn.


“Anh cho em xin một đồng.”


Ngửng đầu nhìn lên, Phong thấy một thanh niên còn trẻ, khỏe mạnh, miệng đang nhai nhồm nhoàm, đồng thời một tay chìa ra xin Phong tiền, tay còn lại đang cầm một miếng thịt heo quay vàng lượm, trông thật ngon lành. Khó chịu, Phong hỏi:


“Chú khỏe mạnh như vậy, sao không đi làm?”


“Mỹ nó chê tui nói tiếng Mỹ như con bò, không ai thèm thuê tui hết.”


“Chú có thể làm việc với người Việt Nam.”


“Tụi nó thấy tui nói tiếng Mỹ không được, bóc lột tui quá chừng, tui nghỉ.”


“Thôi ngồi xuống đó, ăn gì thì ăn, tôi trả.”


Bà chủ tiệm bước lại gần nhăn nhó:


“Chú làm phiền khách của tôi từ hồi sáng cho đến giờ, chú làm ơn đi chỗ khác được không?”


“Ê, tui đâu có xin bà đồng nào đâu.”


Hắn sừng sộ với bà chủ tiệm khiến Phong phải can thiệp bằng cách dúi cho hắn năm đồng bạc để hắn đi ra.


Tưởng sẽ không bao giờ gặp lại hắn dù rất thèm muốn gặp lại. Lý do cần gặp lại hắn cũng dễ hiểu. Hắn đã nẫng nhẹ của Phong nguyên chiếc ví da với tất cả giấy tờ quan trọng trong đó. Phong không có thói quen để tiền trong ví da nên tuy không mất tiền nhưng rất tức vì mất những giấy tờ hộ thân quan trọng cùng một vài kỷ niệm nhỏ bé đã gói ghém trong ấy.


Cả tuần đảo quanh khu phố, cố công tìm kiếm hắn nhưng vô vọng. Phong bỏ hẳn ý định tìm kiếm, nhưng chính hắn đã tìm đến Phong. Một buổi sáng sớm, khoảng mười ngày sau khi Phong mất chiếc ví da. Hắn đã như con gà chết nằm một đống cạnh cửa căn nhà Phong đang thuê. Hai mắt dính đầy ghèn, coi bộ mở không muốn nổi.


Thương hại, Phong hỏi:


“Chú mày bị bệnh gì?”


Hắn không còn hơi sức để trả lời. Tay run rẩy móc trong túi chiếc ví da ra để đưa cho Phong. Ðôi mắt vẫn nhắm nghiền.


“Mày cũng biết tao lùng mày quá nên phải đem trả, phải không?”


Hắn vẫn không trả lời, để tay lên trán, trán hắn nóng như lửa.


Phong đành phải gọi xe cứu thương và tự cảm thấy có bổn phận giúp đỡ hắn. Câu đầu tiên khi hắn vừa tỉnh lại:


“Tui không ăn cắp cái bóp của ông. Ông làm rơi ở cửa xe, tui lụm được, tính đem trả cho ông nhưng tui bị bịnh quá trời. Tui có đi xin ăn thiệt nhưng tui không phải là thứ ăn cắp.”


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.

Tết mẹ tôi – thơ Phùng Hiếu

Sáng nay theo Xuân xuống phố/ Em lì xì ta nụ cười/ Hình như Mai chưa khoe sắc?/ Tết về Tết trải muôn nơi

Những điều nhỏ nhặt – thơ Yên Nhiên

Này hòn sỏi nhỏ giữa đường đi/ Lăn lóc đơn côi có nghĩa gì/ Phải chăng giã từ viên đá tảng/ Trải mình lót lối khách chuyển di