Mảnh vụn chuyện đời sống

Một góc núi Hương Tích. (Hình: vnculturalgarden.org)

1-Hàng năm khoảng nửa thế kỷ trước ở quê hương, cứ cỡ Tháng Mười Một là giới cầm bút rục rịch bàn chuyện làm báo Tết: “Trong 12 con giáp, năm âm lịch sắp tới sẽ là năm cầm tinh con vật gì?” Thế là chủ đề báo Xuân năm đó con giáp ấy sẽ lên ngôi. Nôm na người ta tính năm nay năm Tuất, chó đi để sang năm lợn đến, hết Bính Tuất là tới Đinh Hợi.

Dương lịch 2019 sẽ là năm Kỷ Hợi theo âm lịch, con lợn hay con heo sẽ trị vì như phong tục lễ lạc xã hội ở mấy nước phương Đông, trong có Việt Nam. Nhà thơ Thành Tôn nhắc tôi: “Bài báo Xuân tháng này bạn viết chưa? Mấy năm nay bạn không viết bài Xuân bài Tết, Xuân khô khan quá.” Quả thật như thế, lần này tôi viết ngay đây vậy.

2-Ấu niên vào đời, trẻ nhỏ đã sống bên cạnh gia súc, nhất là trẻ nhỏ làng quê Việt Nam. Tác giả bài này vào lúc trí nhớ mở mang – và vào năm 1945 – do hoàn cảnh, đã phải một ngày hai lần nhồi cám vào chậu bèo, đội chậu bèo đi nuôi một bầy lợn khi thì một con heo nái, khi thì một chuồng heo, ngoài con heo nái, còn 6, 7 con heo nhỏ khác, dưới sự canh chừng của một người lính Nhật, anh ta chân đi giày ống quấn sà-cạp, súng cầm tay lúc nào lưỡi lê cũng được cắm sẵn trên đầu súng.

Mẹ tôi hay chị tôi, hay một bà chị người làng mẹ tôi dưới chân núi Hương Tích đến ở nhà tôi đỡ đần việc nhà, sẽ trông nom bầy lợn ấy nếu như mấy người lính Nhật, người ta quen gọi mấy thằng phát xít hay mấy tên lùn, không chiếm ngôi nhà.

Năm 1945, quân Nhật tước khí giới quân Pháp tại nhà ga xe lửa Đồng Văn, và toàn khu thị trấn dài rộng khoảng một cây số trên quốc lộ số 1, cách Hà Nội 47 cây số về hướng Bắc, cách Nam Định hơn 20 cây số về phía Nam. Phố Ga Đồng Văn là quê hương bản quán họ Nguyễn làng tôi, dân đinh chỉ khoảng ngàn người.

Sau khi Nhật tước khí giới quân Pháp, họ chiếm tiệm thuốc Bắc Phúc Hưng Đường của bố tôi làm trụ sở đóng quân, đặt bản doanh trông coi khu phố. Tiệm thuốc không còn hoạt động, gia đình chủ ngôi nhà chỉ còn bà mẹ góa tuổi khoảng 40 và ba đứa con còn niên thiếu.

Do tòa nhà xây khang trang, cửa vòm, trên mái nhà có trụ cao, bước lên đó có thể nhìn bao quát bốn phía, nên hết Việt Minh đến Nhật thay nhau chiếm để làm trụ sở đóng quân mỗi khi họ kéo tới khu phố Đồng Văn. Điều thuờng xảy ra là, phụ nữ trong nhà luôn luôn phải rời vào ngôi nhà thứ hai ở làng trong, bên kia quốc lộ, và tôi con trai lớn nhất trong nhà, bảy tám tuổi, phải làm những việc không tên. Một trong những việc ấy là ra vào ngôi nhà của nhà mình – nhà bố mẹ mình – làm những việc phụ nữ  phải làm nhưng lại không dám vào nhà mình khi quân giặc còn đang chiếm đóng.

3-Một trong những việc không thể ngừng được dù một ngày là nuôi một bầy lợn lúc nào cũng đòi ăn. Chúng đói đến nỗi gặm nát thành chuồng, kêu la eng éc cả ngày. Công việc của tôi khiến cho mấy người lính Nhật gật gù thân thiện, họ nói gì đó dĩ nhiên tôi không hiểu, nhưng cũng còn nhớ những tiếng như “Yoto/Yotonay” (Tốt/Không tốt).

Có một chuyện xảy ra rất thường mà mãi về sau tôi mới thấy là trầm trọng: một hôm ngoài sự hiểu biết của mọi người, ông chú họ tôi xuất hiện giữa mấy người lính Nhật, trong đó có một sĩ quan, đeo huy hiệu trên cổ áo binh phục. Ông vừa nói vừa viết tiếng Nhật lên một cuốn sổ tay.

Điều tất cả chúng tôi kinh ngạc là ông đàm thoại với người Nhật bằng tiếng Nhật, và hiểu vì sao ông chú họ xưa kia nay xuất hiện trong binh phục “thiên hoàng” và ghê gớm hơn, bên hông đeo một thanh gươm dài, dài đến nỗi vỏ thanh gươm gần như chạm mặt đất! Thật ra chúng tôi hiểu ra rất nhanh.

Chú tôi rất giỏi Hán văn, chữ viết mạnh mẽ, sắc nét, chỉ không ai ngờ ông có thể đàm thoại với người Nhật, và đeo gươm mặc quân phục Nhật, đội mũ và đi ủng. Ông chú họ ấy còn làm chúng tôi cảm phục, sau này ở Sài Gòn, ông tự học và trở thành chánh án. Những ngày cuối cùng ở miền Nam, ông phục vụ trong Tối Cao Pháp Viện Việt Nam Cộng Hòa trong văn phòng Thẩm Phán Trần Thúc Linh.

4-Đã ba phần tư thế kỷ rồi kể từ những ngày giặc dã chiếm quê hương cho tới nay là những tháng năm lưu vong ngoài quê hương và tha hương. Điều khó khăn là quá nửa đời người, không thể một mình giải quyết chuyện mình, bên ta là gia đình quyến thuộc.

Cái ta của ta cái ta tự do đã hết, mòn lực kiệt; để chỉ còn nâng ly rượu nhạt mà nhớ thuơng quá vãng. Chỉ còn ý nghĩa chút gì nếu biết lắng nghe tiếng cười tiếng nói của trẻ thơ vô tư quanh quẩn góc nhà. Mà chưa chắc có được thế chăng? (Viên Linh)

Video: Quê Nhà Quê Người Mới Cập Nhật

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây.