Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – “Hội Họa Trung Quốc” của Từ Kiến Dung được dịch giả Nguyễn Phố dịch từ nguyên bản chữ Hán và xuất bản tại Huế năm 2013.

Tác phẩm khá dày, 558 trang, chia làm sáu chương, mỗi chương bàn về một khía cạnh của hội họa Trung Quốc qua dòng lịch sử như: khái lược về lịch sử hội họa, khí vận, kỹ pháp, phân loại và hình thức, tàng trữ và thị trường, nghiên cứu và biên soạn.
Mỗi chương có cái lý thú riêng của nó. Trong bài viết này, tôi tóm lược tiết thứ hai trong chương hai, “Khí Vận trong Hội Họa Trung Quốc” của tác phẩm “Hội Họa Trung Quốc,” bàn về liên hệ giữa bốn lãnh vực nghệ thuật trong lịch sử hội họa Trung Quốc, đó là: THI (thơ), THƯ (thư pháp), ẤN (ấn triện) và HỌA (vẽ).
Theo tác giả Từ Kiến Dung, trong lúc liên hệ giữa “nhân phẩm” và “họa phẩm” (*) tương đối mơ hồ, thì mối liên hệ giữa hội họa với thơ văn, thư pháp và ấn triện là điều rất rõ ràng. Mối liên hệ đó phản ảnh một cách hữu hình, cụ thể trong hội họa.
“Ý cảnh của một bức họa như thế nào, cấu tứ ra sao, bút pháp thế nào, bố cục ra sao, tất cả đều có mối quan hệ nhất định với thi, thư, ấn.” Nó đi đôi với sự phát triển của hội họa Trung Quốc qua lịch sử.
Nhưng đặc biệt nhất cần ghi nhận là liên hệ giữa thơ văn và hội họa.
Mối liên hệ này đã diễn ra từ thời Thượng Cổ, vì văn học và hội họa đều là “công cụ tuyên truyền của lễ giáo.” Đối với quan niệm triết lý trừu tượng thì dùng văn học để diễn tả. Nhưng đối với “sự phối hợp hình tượng thuyết giáo công cụ tuyên truyền luân lý,” phải dùng hội họa mới miêu tả được. Lục Cơ cho rằng, “Miêu tả sự vật không gì bằng ngôn ngữ, lưu giữ hình ảnh không gì bằng hội họa.”
Mối liên hệ giữa hội họa và văn học đã là một đề tài trong lịch sử mỹ học Tây phương. Giữa hai lãnh vực, có sự tương thông và bất tương thông. Theo G.E. Lessing (1729-1781), hội họa xem cái đẹp là “tối cao” và chối bỏ hình tượng của cái “xấu;” còn văn học thì có miêu tả cái xấu, nhưng “miêu tả cái xấu cũng không đem đến cảm giác xấu cho người đọc.” Mặt khác, hình tượng hội họa Tây phương lấy “không gian” làm đặc điểm, tuy nhiên, “phần lớn các tác phẩm là những bức vẽ một tấm, nên chỉ biểu hiện không gian trong một thoáng chốc nào đó mà thôi”; còn văn học Tây phương lấy sự “liên tục của thời gian” làm đặc điểm, cho nên, tính tự sự rất mạnh. Nói chung, vấn đề “không gian” và “thời gian” được coi như là “giới hạn có tính kinh điển giữa họa và thơ.”
Trong lúc đó, văn học Trung Quốc không “chú trọng đến tính liên tục của thời gian tự sự; còn hội họa thì ngoài loại tranh treo một bức ra, còn có tranh theo dạng trường quyển, nên có thể triển khai tính liên tục về thời gian, do đó, làm tan biến giới hạn giữa văn thơ và hội họa.” Hai nhà thơ lớn kiêm họa sĩ đã đem lại “những cống hiến to lớn trong việc xác lập mối quan hệ giữa thơ và họa,” đó là Vương Duy đời nhà Đường và Tô Thức (Tô Đông Pha) đời nhà Tống. Mỗi người đóng một vai trò: Vương Duy là người mở đầu; Tô Thức là người khai phá.
Vương Duy (699-759) tự là Ma Cật, người huyện Kỳ, thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt 30 năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật.
Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Ông tự nhận: “Ta hiện đương là kẻ làm thi từ lếu láo, nhưng vốn tiền thân ta là một họa gia.” Ông là người có “tư tưởng sâu xa, mắt chưa từng thấy tranh vẽ mà luôn luôn trong thơ từ đầy ắp những họa ý, bởi vì ông chỉ biết có tranh hiện ra trong ý, có lẽ xuất phát từ bẩm tính không cần bắt buộc phải cầm bút vẽ ra, tức vốn sinh ra là đã biết rồi vậy.” Do đó, những bài thơ của ông được gọi là “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa). Chẳng hạn những câu thơ sau:
-“Lạc hoa tịch mịch đề sơn điểu
Dương liễu thanh thanh độ thủy nhân”
(Hoa rơi lặng lẽ chim rừng hót
Dương liễu xanh xanh người qua sông)
-“Hành đáo thủy cùng xứ
Tọa khan vân khởi thời”
(Đi đến nơi cuối bãi
Ngồi ngắm lúc mây lên)
-“Bạch vân hồi vọng hợp
Thanh ái nhập khán vô”
(May trắng nhìn tan hợp
Mù dày chẳng thấy chi)
Những câu thơ như thế cho người ta thấy “một thứ họa ý bình lặng, đạm bạc như hiện ra trước mắt.” Tranh vẽ của ông thất truyền, nhưng theo sử sách ghi chép thì người ta đã tôn xưng tranh sơn thủy bình viễn của ông là “văn phong thạch sắc, tuyệt tích thiên cơ” (dáng mây sắc đá, tuyệt bút thiên bẩm) hay “bút mặc uyển lệ, khí vận thanh cao” (bút mực uyển chuyển, khí vận thanh cao).

Tuy nhiên, Vương Duy chỉ dừng ở chỗ thực tiễn mà chưa truyền đạt “cái tâm đắc của ông cho mọi người cùng cảm nhận.” Phải đợi đến gần 300 năm sau, thì quan điểm “thi trung hữu họa” mới được triển khai mạnh mẽ qua một nhà thơ khác, đó là Tô Thức.
Tô Thức (1037-1101) tự Tử Chiêm, hiệu Đông Pha cư sĩ, nên thường gọi là Tô Đông Pha, người My Sơn, nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ông cùng với cha là Tô Tuân và em là Tô Triệt, cả ba đều là các đại gia thi văn được người đương thời gọi là “Tam Tô” (ba người họ Tô).
Thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui. Ông là người giàu tình cảm, phản ảnh trong văn thơ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Tô Thức rất tôn sùng Vương Duy. Ông nói: “Đọc thơ Ma Cật (tức là Vương Duy) thì rõ trong thơ có họa, xem tranh Ma Cật thì rõ trong họa có thơ.”
Lấy Vương Duy làm điển hình, Tô Thức viết ra rất nhiều thơ văn, ra sức xiên dương mối quan hệ giữa thi và họa, tóm lược trong bốn chữ “Thi họa nhất luật” (Thơ Họa là một).
Trong bài thơ nổi tiếng có nhan đề “Thư Yên Lăng Vương Chủ bạ sở họa triết chi nhị thủ,” ông cho rằng “ý nghĩa chính của hội họa không phải ở cái vẻ bề ngoài (hình thể) giống thực hay không” mà là ở chỗ “tài năng trời phú và nét thanh tân” của hình thể bề ngoài ấy; do vậy, thơ họa tuy chất truyền dẫn khác nhau nhưng bản chất thì giống nhau.” Theo ông, “trong tranh Vương Duy đã có ý cảnh của thơ văn, chứ không giống như chất tỉ mỉ công phu của một họa công bình thường.”
Đó là trong thơ có họa. Còn trong họa có thơ thì như thế nào?
“Phần lớn chúng là những đối tượng, những cảnh thực được vẽ ra một cách tỉ mỉ, tinh tế toát lên một không khí trữ tình, dù cho bản thân họa gia không đề câu thơ nào trên bức họa, nhưng ý họa tình thơ như nước sữa hòa tan, thực cảnh khó nói liệt bày trước mắt, hàm ý bất tận tràn ra trên tranh. Tuy là họa công tả thực, nhưng không có một chút dung tục của hơi hướng người thợ khắc bản mà lại tràn trề không khí thư họa, ưu nhã thanh tân, thưa nhạt khéo đều, phẩm cách cực cao.” (…) “Như vậy, có thể thấy có sự tu dưỡng thơ văn hoặc không có sự tu dưỡng thơ văn đều phản ảnh trong sáng tác hội họa, phân biệt rõ cao thấp, nhã tục của một họa phẩm, nó hiện ra rõ ràng rất dễ nhận biết.”
Như thế là có hai phái: Người làm thơ mà có họa trong thơ, hay vừa làm thơ vừa vẽ tranh, được gọi là văn nhân hay họa gia văn nhân. Người chỉ biết vẽ, mà trong bức vẽ có hàm chứa ý thơ được gọi là họa công hay họa gia. Tuy có liên hệ, nhưng cách thể hiện trong tác phẩm giữa hai phái có khác nhau.
Sáng tác của họa công chú ý đến khách thể, còn sáng tác của văn nhân chú trọng đến chủ thể. Họa gia mang tính thơ thường vẽ những cảnh thực tỉ mỉ, tinh tế, toát lên tình, dù không đề một câu thơ nào. Họ tu dưỡng về thơ văn nên phản ảnh trong họa. Một bức họa có tính thơ thường cao nhã hơn những bức họa chỉ là để họa. Người họa sĩ văn nhân, khác hẳn. Với họ, hội họa chỉ lả nghiệp dư. Họ vẽ không thể đẹp bằng họa gia và chỉ giới hạn trong một số đề tài như sơn thủy, mai lan cúc trúc và gửi gắm tâm tình vào trong đó.
Nhưng nói chung, quan điểm “thơ họa là một” gặp nhau ở chữ “tâm”: “Thơ là tiếng nói của tâm, họa là bức tranh của tâm.” Có thể nói sự khởi xướng mối quan hệ này là từ văn nhân, đúng hơn, là của họa gia văn nhân, nhà thơ biết vẽ. “Họ vốn giỏi về thơ văn không hình sắc mà lại vụng về hội họa tạo tranh ảnh, cho nên họ ra sức đề xướng việc lấy thi cảnh làm họa cảnh, lấy vô hình để tạo ra hình, chứ họ không có ý khoe cái giỏi, tránh cái vụng của mình.” Hơn nữa, văn nhân được xem là “tấm gương của người có địa vị văn hóa trong xã hội, nên ảnh hưởng của họ lan đến trong các họa phẩm của họa công.”
—–
Chú thích: (*) Xem bài kỳ trước: “Nhân phẩm và họa phẩm, đọc ‘Hội Họa Trung Quốc’ của dịch giả Nguyễn Phố,” www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhan-pham-va-hoa-pham-doc-hoi-hoa-trung-quoc-cua-dich-gia-nguyen-pho/
Dịch giả Nguyễn Phố sinh năm 1942 tại xã Vinh Mỹ, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp Cử Nhân Triết và Đại Học Sư Phạm ban Việt Văn trường Đại Học Văn Khoa Huế, nguyên là giáo sư Việt Văn trường Trung Học Thành Nội Huế, hiện đã về hưu, cư ngụ ở Huế.
Ông tự học chữ Hán, chuyên dịch các tác phẩm Hán Văn về nhiều thể loại khác nhau, kể cả tự điển. Trong vòng gần 30 năm qua, ông đã dịch hơn 10 tác phẩm, trong đó có: “Con Đường Tơ Lụa,” “Ngữ Pháp Hán Ngữ Thực Dụng,” “Từ Lâm Hán Việt Từ Điển,” “Mạn Đàm Về Hồng Lâu Mộng,” “Hán Việt Tự Điển,” “Uyên Nguyên Tư Tưởng Thiền Tông”…
Công trình biên soạn lớn nhất của ông là cuốn “Đại Tự Điển Hán Việt” dày hàng ngàn trang, bản thảo hiện đã hoàn tất, sẽ xuất bản trong thời gian gần đây.



























































































