Văn chương hải ngoại: Từ chợ đến…văn học nghệ thuật

Trần Doãn Nho

Hồi đó, 1993, hơn ba thập niên trước.

Một số ấn phẩm của Tạp Chí Khởi Hành do Viên Linh chủ trương. (Hình minh họa: Quốc Dũng/Người Việt)

Vài ngày sau khi đến định cư ở một thành phố nhỏ thuộc một tiểu bang lạnh giá vùng Bắc Mỹ, nơi chỉ có khoảng vài ngàn người Việt ở rải rác trong một vùng toàn người ngoại quốc, lần đầu tiên tôi chạm mặt với thế giới chữ nghĩa ở một nơi bất ngờ: Chợ. Thu tóm trong không gian chật chội của một ngôi nhà thuê cũ kỹ, giọng Huế chen Quảng, Bắc chen Nam, đậm đà mùi ruốc mùi nước mắm mùi cá thịt, mùi rau cải mùi tiêu mùi hành mùi trà và mùi nhạc…bolero, chợ là nơi của quy tụ, của gặp gỡ, của chia sẻ. Giữa những tanh tao lao xao chen chúc ồn ào, tôi tìm thấy một số vật thể thầm lặng, nhỏ bé nằm ở một góc nhỏ lãng quên, gần quầy tính tiền: Báo tiếng Việt. Sản phẩm văn hóa dành cho những đứa con lạc loài ở xứ người, được bỏ mối tại các chợ/tiệm nằm chung với chả giò, gỏi cuốn, chè, cháo. Lâu quá, thèm chữ, không cần quan tâm đến hình thức trông “nghèo nàn” của nó, tôi cầm báo đọc ngấu nghiến, từ những trang quảng cáo (chiếm phần lớn) cho đến tin tức thời sự quốc tế, thời sự cộng đồng, từ những bài thơ “con cóc” cho đến những bài thơ tình ướt át, từ những truyện ngắn in lại của các tác giả cũ cho đến đoản văn của những cây bút hoàn toàn xa lạ. Chao ơi, tiếng Việt! Đọc chúng, tôi ngẩn ngơ nghe thấm khắp châu thân hơi hướm quê nhà: Một tổng hợp kỳ lạ giữa mùi và tiếng.

Trong quá trình tồn tại (và phát triển) của nó, dẫu loại báo này – được quen miệng gọi là “báo chợ” – mang một hình ảnh tiêu cực do cách phát hành ở một nơi không mấy thích hợp, sau này lại càng tệ hại hơn khi có tờ, nói như Nguyễn Vy Khanh, trở thành “báo chửi” (chửi nhau trở thành một cái “mẹo” quảng cáo), sự hiện diện của nó đã đóng một vai trò không thể thiếu trong sự kết nối những người xa xứ thành một cộng đồng văn hóa. Nó là sự nối tiếp không ngưng nghỉ của những “tờ báo” xuất hiện trong các trại tị nạn vào những tháng tiếp sau biến cố Tháng Tư, 1975. Theo nhà văn Mai Kim Ngọc, bước đi chập chững đầu tiên của văn học hải ngoại được thực hiện trong các trại tị nạn: Những bản tin chỉ dẫn cách sống. Đó đơn giản là những tờ giấy quay roneo, tập trung vào mục rao vặt, nhắn tin tìm thân nhân và thông báo từ cơ quan đảm trách trại tị nạn. Nhu cầu viết và đọc không có gì khác hơn là giúp người, những người hốt hoảng di cư nắm bắt tin tức cần thiết cho sự sống còn.

“Hồi ấy, chúng tôi không nghĩ đến văn học… và có lẽ đồng bào tôi cũng chưa nghĩ đến văn học. Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho những người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong một thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, chuyện gọi điện thoại, chuyện mua bán tại siêu thị vân vân và vân vân. Tóm lại những chuyện thuần túy thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của những hoàn cảnh cấp cứu… Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không trực tiếp thì gián tiếp. Khi rời khỏi đất nước, ít ai trong số người đó nghĩ tới chuyện rồi đây sẽ sống ra sao. Lẽ cố nhiên, lúc đó chả còn đầu óc đâu mà nghĩ tới văn chương nữa. Nhiệm vụ chủ yếu đối với chúng tôi là sống được cái đã, bởi lẽ phải bắt đầu tất cả từ con số không?” (1)

Tờ báo đầu tiên là “Chân Trời Mới” do Phạm Kim Khánh xuất bản vào Tháng Năm, 1975 tại đảo Guam, “thọ” đúng ba tháng khi người Việt cuối cùng rời đảo vào định cư trong lục địa Hoa Kỳ. (2) Một tờ khác là “Đất Lành.” Võ Phiến, trong bài “Xuất Trại,” nhắc nhở đến tờ báo này: “Đất Lành cuối Tháng Tám, 1975, liên tiếp mấy số liền, có những bài đăng ở trang nhất, cố gắng giải thích, khuyên nhủ, dỗ dành, mỉa mai, rồi… hăm dọa, nhằm thúc đẩy dân tị nạn mạnh dạn ra đi lập lại cuộc đời mới.” (3)

Từ những Chân Trời Mới, Đất Lành, dần dà, người Việt đã thực hiện và phát hành những tờ báo càng ngày càng có vẻ “báo chí” hơn về cả hình thức lẫn nội dung, sau khi người tị nạn được nhận định cư ở Hoa Kỳ và các nước khác. Càng ngày càng phát triển về số lượng. Hình thức làm báo phát không này từng được ví von như “trăm hoa đua nở” trên mọi nẻo đường…hải ngoại. Bất cứ ở đâu có cộng đồng người Việt là ở đó có báo đủ dạng đủ loại, từ đấu tranh, hội đoàn, tin tức thời sự, văn chương đến tôn giáo. Một món ăn tinh thần bổ dưỡng miễn phí. Nhiều nhất chắc chắn là ở Hoa Kỳ, sau đó là Canada, Pháp, rồi đến các nước khác ở Tây Âu cũng như ở Đông Âu và Úc.

Hầu hết báo chí đều có tính cách tổng hợp, ngoài quảng cáo là nguồn nuôi sống tờ báo chiếm lĩnh phần chính, còn lại là tin tức, bình luận thời sự, các mục tạp nham khác và cuối cùng, pha thêm chút thơ, chút truyện cho màu mè. Đi xa hơn, một số báo định kỳ như “Trắng Đen,” “Người Việt,” “Hồn Việt,” “Việt Nam Hải Ngoại” ở Mỹ, “Dân Quyền,” “Lửa Việt” (Canada), “Độc Lập” (Đức), “Người Việt Tự Do” (Nhật) cho công bố các sáng tác của những nhà văn di tản. Và dần dần chúng được xuất bản thành sách sau đó, chẳng hạn như “Ly Hương” (tập truyện) của Võ Phiến và Lê Tất Điều hay “Ngừng Bắn Giờ Thứ 498” (Lê Tất Điều), “Trọn Vẹn” (Võ Phiến), tất cả đều do báo “Người Việt” phát hành.

Theo với cuộc sống dần dà ổn định, phần văn học nghệ thuật được chăm chút cẩn thận, càng ngày càng trở thành một trong những yếu tố thu hút độc giả. Bùi Vĩnh Phúc ghi lại một kỷ niệm như sau với nhà văn Nguyễn Mộng Giác: “Tôi biết anh [Nguyễn Mộng Giác] là vào khoảng năm 1984, khi anh đang phụ trách trang nghệ thuật của báo Đồng Nai tại Quận Cam. Trang báo được anh chăm chút một cách cẩn thận. Từ cách thiết kế các tiết mục văn nghệ, các bài vở cho đến chính nội dung của các bài vở ấy. Một lần, anh Giác cho đăng làm hai hay ba kỳ chuyện vừa ‘Ngựa Nản Chân Bon’ mà anh đã viết trên đảo tị nạn Kuku, Galang, trong những ngày chờ được định cư tại một nước thứ ba (…) Đọc được truyện ngắn (đúng hơn là truyện vừa ấy), tôi thật thích, vì, đối với tôi, nó đáp ứng được những khát khao về mặt thẩm mỹ trong văn học mà đã từ lâu, ít ra từ những ngày cuối Tháng Tư, 1975 cho đến lúc ấy, tôi không có dịp được nếm trải, được tiếp cận.” (4)

Cho đến nay, mặc dù báo đủ loại đầy dẫy trên mạng, hình thức làm báo chợ “nguyên thủy” vẫn còn tồn tại. Tất nhiên với hình thức và nội dung được cải tiến nhiều và phong phú hơn. Dù bị quảng cáo và tin tức khuất lấp, báo nào cũng có thơ văn đủ loại. Nhiều tờ phát hành song song, vừa báo giấy bỏ chợ lại vừa cho lên mạng, với sự cộng tác đều đặn (kiểu này hoặc kiểu khác) của những cây bút thời danh, trở thành một tạp chí tổng hợp, đủ để sưởi ấm tấm lòng yêu văn chương của nhiều hạng độc giả.

Một số nhà văn thành danh, hay tác phẩm xuất sắc được đăng lần đầu tiên, đôi khi không phải từ/trên những tạp chí thuần túy văn chương, mà từ/trên những tờ báo bỏ chợ như thế. Với sự điều hành hay cộng tác của những nhà văn nhà báo chuyên nghiệp thời VNCH di tản, một số tạp chí “thuần túy” văn học nghệ thuật, dần dà xuất hiện. Tất cả điều này tạo nên một môi trường văn chương lan tỏa trong cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa kích thích sáng tác vừa là nhân tố tạo nên một lớp người viết mới càng ngày càng đông đảo. Nhờ đó, một dòng văn học tồn tại ngoài đất nước trở thành hiện thực.

Để độc giả, nhất là thế hệ trẻ, dễ hình dung, xin liệt kê một số, dù không đầy đủ lắm, nhưng khá điển hình:

-Ở Pháp, có “Hồn Việt Nam” (Minh Đức Hoài Trinh) 1975, “Quê Mẹ” (Võ Văn Ái) 1976.

-Ở Canada, có “Làng Văn” (Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa) 1984, “Trăm Con” (Trân Sa) 1992.

-Ở Úc, có “Việt Luận” (Nguyễn Chánh Sĩ) 1983, “Tạp Chí Việt” (Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn) 1998.

-Ở Hoa Kỳ, thì rộn ràng hơn nhiều: “Đất Mới” (Huy Quang, Vũ Đức Vinh, Nguyễn Văn Giang) 1975, với sự cộng tác của Thanh Nam, Mai Thảo, “Lửa Việt” (Nguyễn Ngọc Bích) 1976, với sự cộng tác của Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ, Hùng Lân, Võ Phiến, Viên Linh, Trần Phong Vũ, Nguyễn Đức Nam, Kim Y, Vi Khuê, Huyền Vũ…, “Hồn Việt” (Nguyễn Hoàng Đoan) 1976 với sự đóng góp bài vở của Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, Tạ Ký, Nhất Tuấn, Cung Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng, “Người Việt” (Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu) 1978, “Văn Học Nghệ Thuật” (Võ Phiến) 1978, “Thời Tập” (Nguyễn Hữu Hiệu, Viên Linh) 1979, “Nhân Chứng” (Du Tử Lê) 1983, với sự cộng tác của Nhật Tiến, Nguyên Sa, Lê Huy Oanh, Phạm Duy, Vũ Khắc Khoan, Đặng Phùng Quân…,“Nhân Văn” 1982, do một nhóm trẻ chủ trương với chủ nhiệm Phi Ngọc Anh và chủ bút Hoàng Nguyên Khôi và sự cộng tác của những cây bút mới về sau trở thành những cây bút hải ngoại tiếng tăm như Tưởng Năng Tiến, Trần Diệu Hằng, Phan Ni Tấn, Nguyễn Mạnh Trinh…, “Văn” (Mai Thảo 1982, Nguyễn Xuân Hoàng 1997), “Văn Học” (Nguyễn Mộng Giác) 1986, “Tân Văn” (Hà Thúc Sinh) 1988, “Thế Kỷ 21” (Vương Hữu Bột, Phạm Phú Minh) 1989, “Hợp Lưu” (Khánh Trường) 1991, “Hương Văn” (Bùi Bích Hà, Huy Trâm) 1993, “Tạp Chí Thơ” (Khế Iêm) 1994, “Khởi Hành” (Viên Linh) 1996, “Văn Tuyển” (Nguyễn Phúc Sông Hương) 1998, “Sóng Văn” (Nguyễn Sao Mai) 1999, “Văn Phong” (Tạ Cự Hải, Nguyễn Minh Nữu) 1999, “Phố Văn” (Nguyễn Xuân Thiệp) 2000, “Chủ Đề” (Nguyễn Trung Hối) 2000, “Thư Quán Bản Thảo” (Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn) 2001, “Gió Văn” (Hàn Song Tường, Nguyễn Thị Thanh Bình) 2003, “Nguồn” (Trần Anh Lan, Song Nhị) 2004, “Tân Văn” (Nguyễn Văn Lục) 2007, “Văn Học Mới” (Hà Nguyên Du) 2018, “Ngôn Ngữ” (Luân Hoán, Song Thao, Nguyễn Vy Khanh) 2019, “Gió Đông Giai Phẩm” (Đông Âu). (5) [đ.d.]

(1)-Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại, Tạp Chí Văn học (California), 1995, số 109.
(2)-Nguyễn Hưng Quốc. https://damau.org/102979/hai-muoi-nam-van-hoc-viet-nam-o-hai-ngoai
(3)-Thụy Khuê, bđd.
(4)-Bùi Vĩnh Phúc, Nhớ Nguyễn Mộng Giác. Và tưởng nhớ một thời văn https://damau.org/25460/nho-nguyen-mong-giac-va-tuong-nho-mot-thoi-van
(5)-Xem Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại, tiểu mục “50 năm báo chí hải ngoại” (từ trang 646-711)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT