Truyện ngắn của Trần C. Trí
WESTMINSTER, California (NV) – Buổi chiều Mùng Một chậm rãi trôi qua, không khí Tết vẫn còn nồng nàn trong trời đất, tuy tiếng pháo nổ đã bớt dồn dập hơn ban sáng. Trong nhà ông Tư Trực, trên bàn thờ tổ tiên, hai ngọn bạch lạp thắp từ sáng sớm còn lại một nửa, sáng lung linh bên hai bình bông huệ tây đỏ rực, chính giữa là là cái lư đồng sáng loáng không lúc nào thiếu nhang được thắp lên liên tiếp, tỏa ra mùi thơm ngan ngát, quen thuộc. Các món ăn Tết tú ụ, không thiếu thứ gì, bánh tét, bánh ít, xôi, chè, thịt thà, dưa món, ngũ quả… mọi thứ nằm tươm tất, ngon lành trước những bức chân dung của ông bà, họ hàng đã khuất.

Nhấp một ngụm rượu nếp than rồi khà một tiếng sảng khoái, ông Tư Trực ngó lên người bạn già lâu năm, lên tiếng trước:
-Ngày tư ngày Tết, tụi mình còn ngồi đây với nhau khề khà bên ly rượu với món nhắm, gia đình ai cũng trong ấm ngoài êm, sửa soạn chơi với nhau ván cờ đầu năm, thiệt tui nghĩ mình cũng còn phước ông bà lớn lắm, phải không anh Ba?
Ông Ba Lành cũng nâng ly, gật gù:
-Nói phỉ phui, gia đình mình êm ấm tui mừng lắm chớ! Nhứt là năm nay anh với tui sẽ khai trương bàn cờ mới toanh của mình.
Thiệt vậy. Bàn cờ tướng còn thơm phức mùi gỗ mới đang nằm chễm chệ trên cái bàn giữa ông Tư Trực và ông Ba Lành. Ở đâu thì không biết, nhưng nội trong làng An Nhơn này, phải nói đây là bàn cờ tướng độc nhứt vô nhị, bởi vì nó bao gồm các quân cờ khắc bằng chữ Việt hẳn hòi, không còn thứ chữ ngoại bang xa lạ vẫn dùng từ thời Bắc thuộc cho tới bây giờ.
***
Đầu đuôi là như vầy. Ông Ba Lành và ông Tư Trực là hai người bạn từ hồi còn để chỏm. Nhứt nhứt mọi việc hai ông đều cùng làm với nhau, từ chuyện chơi đùa trong xóm tới chuyện học hành ở trường, khi lập gia đình cũng chỉ chênh nhau mấy tháng, rồi có con cũng xấp xỉ tuổi nhau. Khi bên nào bên nấy đã đề huề vợ con, ruộng vườn, huê lợi đâu vô đó, hai ông bạn, bây giờ đã là bạn già, vẫn còn thân mật như hồi nảo hồi nào. Đặc biệt, hai ông đều mê chơi cờ tướng, lấy những ván cờ làm cớ gặp nhau, bù khú bên ly rượu, trầm ngâm suy tính từng nước cờ, kèm thêm những câu chuyện về gia đình, làng nước, không biết tới chừng nào mới hết.
Một bữa, cũng trong một ván cờ đang hồi gay cấn, thình lình ông Tư Trực khảng khái nói:
-Anh Ba nè, tại sao mình cứ phải chơi loại cờ có thứ chữ gợi lại cái thời nô lệ giặc phương Bắc vậy ha? Đành rằng đây là môn giải trí kích thích suy nghĩ, đòi hỏi tính toán hơn thiệt, hết sức hay ho, song lẽ tự nhiên tui thấy mấy cái chữ ngòng ngoèo trên các con cờ mà đâm ra khó chịu quá!
Ông Ba Lành trầm ngâm nói:
-Ờ, anh nói tui nghe cũng giựt mình. Mấy ngàn năm qua rồi mà cũng còn nhiều vết tích của thời đó há. Vậy thì không lẽ mình đừng chơi cờ tướng nữa sao ta?
Vỗ hai tay cái độp, ông Tư Trực chợt sáng mắt lên:
-Có gì đâu mà phải nghĩ! Bây giờ mình chỉ cần “Việt hóa” mấy con cờ là xong.
Ông Ba Lành xoa xoa cằm:
-Anh nói “Việt hóa” hay là “Nôm hóa” đây? Mình có thể dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán, để cho vừa giống vừa khác, anh thấy sao?
Chợt sinh động hẳn lên, ông Tư Trực nói thao thao:
-Chữ Nôm thì cũng hay, nhưng ngặt hai nỗi là như vầy nè. Thứ nhứt, tuy chữ Nôm là chữ của mình, nó cũng là thứ chữ vay mượn từ chữ Hán. Đã vậy, có nhiều chữ không được Nôm hóa hoàn toàn, còn y nguyên như chữ gốc. Chẳng hạn như chữ “xa” dành cho con xe, hay chữ “pháo,” ông Hàn Thuyên và mấy học giả khác ngày xưa cứ để như vậy, không thêm bớt nét nào, đâu có khác biệt gì. Làm lại các quân cờ mà nửa giống nửa khác thì… đâu có giống ai!
Ông Ba Lành gật gù:
-Anh nói nghe cũng phải. Nhưng chữ Quốc Ngữ thì cũng là vay mượn từ mấy ông cố đạo đi truyền Cơ Đốc Giáo trong thời kỳ thực dân Pháp chớ có khác chỗ nào?
Cười khà khà đắc chí, ông Tư Trực giảng giải:
-Anh nói vậy là chưa tới nơi tới chốn đó nghen! Thực dân Pháp đô hộ dân mình thì có, nhưng chữ Quốc Ngữ là do mấy ông cố đạo đủ quốc tịch khác nhau làm ra, phần lớn là người Bồ Đào Nha, người Ý rồi kế đó mới là người Pháp. Đó là mẫu tự La Tinh chớ đâu phải mẫu tự Phú Lang Sa!
Phục ông bạn già nói phải, ông Ba Lành lại gật gù lần nữa:
-Anh phân tích thiệt là rạch ròi! Tuy họ làm ra chữ Quốc Ngữ với mục đích truyền đạo, mình tội gì mà không hưởng cái thành quả văn hóa quý báu đó. Vậy thì tụi mình hợp tác làm mấy con cờ bằng tiếng Việt há.
Ông Tư Trực hào hứng tiếp lời:
-Phải đó. Anh có nghề tay trái là thợ mộc, anh lo chuyện cưa, đẽo, gọt mấy con cờ bằng gỗ. Tui có chút hoa tay, sẽ chạm nổi tên các quân cờ bằng chữ thảo tiếng Việt rồi sơn hai màu xanh đỏ cho hai phe. Anh đồng ý không?
Ông Ba Lành vui lây theo bạn:
-Đồng ý chớ! Mình sẽ đặt tên các con cờ là Tướng, Sĩ, Voi, Xe, Pháo, Ngựa và Lính, nghe thiệt là nôm na, gần gũi và đáng hãnh diện nữa!
***
Buổi chiều Mùng Một năm nay, vì vậy, là một thời điểm đáng nhớ vì hai ông bạn già sắp chơi với nhau ván cờ tướng đầu tiên với các quân cờ “hoàn toàn nói tiếng Việt Nam!” Hai ông uống tới ly rượu thứ mấy rồi không còn nhớ nổi, lại thêm dĩa củ kiệu tôm khô để đưa cay, hết vơi lại đầy, do bà Tư Trực luôn tay tiếp tế, rượu vào lời cứ tuôn ra.
Ông Tư Trực khoát tay trong không khí, giọng đã khá lè nhè:
-Anh Ba Lành nè, mình phải làm sao cho ván cờ đầu năm, với bộ quân cờ bằng chữ Quốc Ngữ, trở thành một kỷ niệm nhớ đời chớ.
“Hừm” một tiếng, ông Ba Lành hỏi lại:
-“Nhớ đời” là nhớ làm sao? Hồi giờ anh với tui thường đánh cờ phạt rượu, bây giờ chẳng lẽ sát phạt ăn tiền?
Ông Tư Trực cười mím chi:
-Hổng phải vậy. Chỗ bạn bè ai lại đánh cờ ăn tiền coi sao cho đặng. Ý tui muốn nói là kỳ này mình cá với nhau một món gì kha khá, món gì thua đi thì tiếc đứt ruột thiệt, mà ngẫm lại thì thấy đối thủ của mình cũng xứng đáng được thắng món đó.
“Món gì mà độc đáo dữ vậy ta?” Ông Ba Lành theo thói quen lại xoa xoa cằm khi cần suy nghĩ.
“Có vậy mà anh không nghĩ ra,” ông Tư Trực tợp một ngụm rượu, cười cười đắc chí. “Món gì của anh mà hồi giờ tui vẫn thường ao ước, và món gì của tui anh cũng thường tơ tưởng tới, anh hổng nghĩ ra sao?”
Cũng nhấp thêm chút rượu, ông Ba Lành chợt à lên một tiếng:
-Ý anh ám chỉ tới cái rẫy bắp của anh nằm giáp nhà tui mà trước giờ tui vẫn thích đó chớ gì? Nhưng mà… anh muốn món gì của tui đây?!
Ông Tư Trực cười lớn:
-Anh này ngó vậy mà… chậm tiêu! Thì cô con gái rượu của anh, để dành cho thằng Hai của tui, chớ còn ai trồng khoai đất này nữa?
Ông Ba Lành giựt thót mình một cái:
-Í cha, món này coi bộ khó nhả ra à nhen! Lỡ ra con Xuân Diệp nhà tui nó không bằng lòng thằng Hai Sang nhà anh thì sao?
Giọng ông Tư Trực càng lúc càng lèng èng:
-Anh chỉ lo con bò trắng răng! Thằng Hai nhà tui với con nhỏ Diệp chơi với nhau từ nhỏ, chắc tụi nó chỉ chờ cha mẹ hai bên bật đèn xanh là chịu nhau liền tù tì. Tui chịu thua rẫy bắp cho anh mới là một thiệt thòi lớn, chớ anh gả con nhỏ của anh cho thằng con trai của tui không những anh chẳng mất mát gì mà còn được thêm một thằng rể hiền nữa.
Ông Tư Trực nói đúng, Hai Sang thiệt là một thanh niên đàng hoàng, chịu khó, lại học hết bực trung học, chữ nghĩa cũng tạm gọi là đầy đủ. Mà cũng chưa chắc là ai thắng ai! Nghĩ vậy, ông Ba Lành mạnh dạn nâng ly, phía bên kia bàn ông Tư Trực hí hửng cũng làm theo. Hai bên cụng ly nhau kêu cái cốp, hể hả bày các con cờ ra, sửa soạn đánh một ván cờ “lịch sử!”
Mỗi người chỉ mới đi mấy nước dạo đầu là ván cờ như đã thiệt sôi nổi, bởi vì lần này giải thưởng to tát quá. Tánh khí của mỗi người thường được phô bày ra rõ rệt qua nhiều tình huống, nhưng không đâu có thể thấy rõ được điều đó bằng qua một ván cờ.
Nhìn cách đi cờ của ông Tư Trực, người ta có thể thấy ông là một người khí khái, gan dạ, tính toán rất nhanh, mà trở cờ cũng không kém phần sắc sảo. Trái lại, các nước cờ của ông Ba Lành cho thấy ông là một người hết sức điềm tĩnh, sâu sắc, suy hơn tính thiệt kỹ càng, đi nước nào chắc nước đó.
Nhìn vào bàn cờ của cuộc chiến đấu sắp tới hồi kết thúc, người ta có thể thấy “thâm cung” của bên ông Tư Trực thiệt là kiên cố, còn bên ông Ba Lành ngó sao trống huơ trống hoác, vừa lạnh lẽo, vừa nguy ngập.
Bầu không khí bây giờ đã căng lắm rồi. Mới đầu hai kỳ thủ còn thoải mái, vừa đi quân vừa bàn qua nói lại những chuyện trên trời dưới đất. Bây giờ thì cả hai đều nín thinh, vận dụng hết trí óc để một là chiến thắng cho lẹ, hai là ít nhất cũng… chưa thua!
Thỉnh thoảng, một trong hai ông nhấc ly rượu lên, tợp một cái, không phải để thưởng thức hương vị nồng cay, mà kỳ thiệt là để… câu giờ, có thêm thời gian tính toán. Khó mà đoán được tâm trạng của hai ông ngay trong giờ phút này. Trên hai gương mặt hết sức đăm chiêu, vầng trán nhăn lại, mồ hôi lấm tấm hai bên thái dương, hai ông đang rán sức thắng đối thủ để chứng tỏ mình là cao thủ trong làng cờ tướng, hay để đoạt được giải thưởng mà lâu nay mình vẫn hằng mơ ước?
Cuối cùng thì ông Ba Lành chịu thua. Lúc này thì hai ông cũng đã say túy lúy, mặt mày ông nào ông nấy đỏ gay. Riêng mặt ông Tư Trực có lẽ còn đỏ hơn, vì ngoài men rượu, ông còn đang say cả men chiến thắng. Trong lúc ông Ba Lành tiu nghỉu, làm thinh lúi húi xếp các quân cờ bỏ vô cái hộp gỗ, ông Tư Trực nâng ly uống hớp rượu chót, khà lên một tiếng nghe vô cùng đắc thắng.
Một tràng pháo từ xa xa chợt nổ lên vang rền. Ông Tư Trực, mỉm cười, cho đó là tiếng pháo mừng chiến thắng vẻ vang của mình. Ông Ba Lành, trái lại, nghe như đó là những âm thanh đang trách móc ông sao đã đi một nước cờ quá nông nổi.
***
Sáng Mùng Hai Tết, phòng khách nhà ông Ba Lành vẫn còn hương Xuân phơi phới. Thiệt đúng là như ông bà mình nói, “Giàu nghèo Ba Mươi Tết mới hay.” Quanh năm suốt tháng, bà Ba Lành tảo tần mua bán, làm lụng, chắt bóp, không dám tiêu phí một cắc bạc nào. Người ngoài ngó vô, tưởng gia đình ông bà cũng thanh bạch lắm, nhưng nếu dòm tới cái bàn thờ ngày Tết trong nhà bây giờ, người ta chắc sẽ tá hỏa nếu biết Tết đã vô nhà ông bà từ cả tuần lễ nay lận, mà vô một cách tưng bừng, đủ hương đủ vị, đủ màu đủ sắc.

Bà Ba Lành hân hoan làm vậy, nhưng ông Ba Lành thì mặt ủ mày chau, coi không ra Tết nhứt gì hết. Bà Ba day lại nhìn ông, giọng chưng hửng:
-Mặt mũi ông sao ngó như cái bánh bao chiều vậy? Đầu năm đầu tháng ông bỏ giùm bộ mặt hãm tài đó được không?”
Vẫn không nói không rằng, ông Ba Lành thở dài đánh sượt một cái khiến bà Ba thiệt lấy làm lạ. Ông chồng mình thường ngày mau ăn mau nói, bữa nay cạy miệng không ra một chữ, không biết là cớ làm sao. Bà Ba cụt hứng, không nói năng gì nữa. Bà đi lại bộ ván bằng gỗ gụ bóng loáng, ngồi xuống, bần thần ngó qua cửa sổ, thấy mấy con chim sẻ kêu chiêm chiếp, vui vẻ rỉa lông dưới ánh nắng Xuân màu hổ phách đậm đà.
Một chặp sau ông Ba Lành mới lên tiếng, sau khi đã thở dài não nuột thêm một lần nữa:
-Bà nó à, mình coi rồi liệu gả chồng cho con Xuân Diệp nhà này đi! Nó cũng không còn nhỏ nhít gì nữa đâu.
Bà Ba giựt mình hỏi lại:
-Í cha, đầu năm ông này nói chuyện gì nghe như trên trời rớt xuống vậy? Đã có ai hỏi han gì tới nó đâu mà ông đòi gả với cưới?
“Số là… số là như vầy…” Ông Ba Lành thấy sao mà khó mở lời quá. “Số là hôm qua tui đánh ván cờ đầu năm với anh Tư Trực, mà rủi bị thua…”
“Thua thì sao?” Bà Ba ngớ người ra, chưa hiểu. “Ông đánh cờ thua thì mắc mớ gì tới chuyện con Xuân Diệp phải đi lấy chồng chớ?”
“Cũng có mắc mớ, bà à,” ông Ba Lành càng nói càng ấp úng. “Tui lỡ hứa… phải gả con Xuân Diệp cho thằng Hai Sang nếu đánh thua ván cờ đó.”
Bà Ba Lành đứng bật dậy:
-Cái gì? Ông nói sao? Ông hứa gả con gái mình vì đánh cờ thua hả?
Bà Ba hỏi lại vì không tin vô tai mình chớ không phải nghe ông nói chưa rõ. Thình lình bà thấy xây xẩm mặt mày, phải ngồi phịch xuống bộ ván, thở từng hơi hào hển. Ngay lúc đó cô Xuân Diệp từ dưới nhà bước lên, thấy mẹ mặt mày xanh lè, hai tay ôm ngực, cô hết hồn chạy tới, la lên:
-Má, má… má có sao không?
Ông Ba Lành cũng rời khỏi ghế, chạy lại bên bà vợ, lo lắng không kém. Bà Ba Lành khoát khoát hai tay, ý nói bà không sao. Cô Xuân Diệp hỏi cha dồn dập:
-Có chuyện gì vậy ba? Hồi giờ má có bị như vầy đâu!
Ông Ba Lành ngập ngừng kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, cô Xuân Diệp cũng thả mình xuống kế bên mẹ. Mấy phút sau, cô mới nói, giọng trách móc:
-Ba ơi, hôm qua ba hứa hay là rượu hứa vậy? Thời buổi này mà sao còn có chuyện cha mẹ hứa gả cưới con cái y trong chuyện đời xưa vậy ba?
Ông Ba Lành thiểu não quay lại ngồi xuống cái ghế sa-lông. Ông thấy bây giờ mình còn miệng ăn mà hết miệng nói. Ông ngồi im một hồi thiệt lâu. Hai mẹ con cô Xuân Diệp cũng không nói tiếng nào nữa. Tết nhứt gì mà trong nhà im ắng, chỉ nghe tiếng pháo nổ lác đác đâu đó trong xóm vẳng lại hòa với tiếng gà gáy eo óc đằng sân sau.
Cuối cùng, ông Ba Lành mới thủng thẳng nói:
-Ba thiệt không phải, con à. Đúng là rượu vô lời ra, hứa hẹn chuyện trọng đại trong một phút cao hứng. Nhưng… ba hỏi thiệt con nè, ba thấy con cũng có cảm tình với thằng Hai Sang, phải không?
Cô Xuân Diệp mắc cỡ không đáp, mặt cô đỏ rần như trái gấc chín. Bà Ba Lành đỡ lời cho con gái:
-Ông hỏi kiểu đó thì ai mà dám trả lời? Cho dù là con Xuân Diệp có ưa thằng Hai Sang đi nữa thì chuyện cưới hỏi phải có hai gia đình bàn tính đàng hoàng, chớ đâu có cái lối đem con đi nạp như một món hàng vậy!
Ông Ba Lành biết lỗi, ngồi im thin thít. Ông tiu nghỉu ngó bình bông mai tươi roi rói trên bàn, muốn vui như mấy cái bông mà vui không nổi. Ông lại thở dài, đứng lên đi về phía bàn thờ tổ tiên, thắp một cây nhang, khấn khấn vái vái, xin ông bà gia hộ cho gia đạo yên ổn quanh năm suốt tháng. Mùi nhang thơm phức lan ra khắp gian phòng, đem lại cảm giác man mác, an hòa trong ngày Xuân đang ngập nắng ngoài kia.
***
Bên nhà ông Tư Trực, trong lúc bà Tư đang tíu tít dưới bếp sửa soạn mâm cơm cúng Mùng Hai Tết, cậu Hai Sang cũng bận rộn phụ cha sắp xếp lại bàn thờ ông bà, tuy rằng mấy bữa nay bàn thờ, nhà cửa lúc nào cũng gọn gàng đâu ra đó.
Ông Tư Trực đang ngồi trước tách trà mùi bông lài thơm ngan ngát, khoan khoái nhìn quanh gian phòng khách tràn ngập sắc Xuân, trong lòng vẫn còn lâng lâng mãn nguyện về ván cờ đầu Xuân hôm qua. Ông lên tiếng biểu con trai:
-Hai Sang à, con lại ngồi đây uống miếng trà Tết với ba. Sẵn ba có câu chuyện muốn nói với con luôn.
Cậu Hai Sang ngừng tay, nghe lời cha tới ngồi xuống ghế. Vừa rót cho mình tách trà, cậu vừa thắc mắc trong bụng, không biết cha muốn nói chuyện gì. Hồi giờ hiếm có khi nào hai cha con lại “nói chuyện” như vầy.
Ông Tư Trực nâng tách, hớp một ngụm trà thơm ngon, hai mắt lim dim một lúc rồi mới thong thả nói:
-Con trai của ba cũng sắp sửa tam thập nhi lập rồi phải không? Ba thấy con hồi giờ vẫn để mắt tới con Xuân Diệp, gia dĩ tụi con cũng thân thiết với nhau từ nhỏ…
Cậu Hai Sang nghe cha nói trúng phóc, hớn hở trả lời:
-Dạ, ba thiệt có mắt tinh đời. Lâu nay con cũng định thưa với ba má giúp ngỏ lời với hai bác Ba để đôi bên tác hợp cho tụi con…
-Khỏi cần! Khỏi cần! – ông Tư Trực cười lên ha hả.
-Ba nói vậy là sao con không hiểu – cậu Hai Sang ngẩn người ra.
Ông Tư khoái trá nói tiếp:
-Như vầy nè, hôm qua ba với bác Ba Lành đánh một ván cờ Tết. Ba là người thắng cuộc, và chiến lợi phẩm của ba là con Xuân Diệp dành cho con đó!
Cậu Hai Sang giựt nảy mình.:
-Chuyện gì lạ đời vậy ba? Ba quên là mình đang sống ở thời đại nào rồi hở ba? Con rất có cảm tình với Xuân Diệp, muốn cô ấy trở thành bạn đời của mình lắm. Nhưng cổ có phẩm giá của cổ, mình đâu có thể đem chuyện cờ bạc ra biến thành chuyện cưới xin được!
Ông Tư Trực hết hồn, đầu năm mà bị cậu con trai sửa lưng, vừa đau, vừa thấy… đúng quá! Cùng một lúc, ông thấy thiệt hãnh diện là qua chuyện này, rõ ràng là cậu Hai Sang đã thành nhơn chi mỹ, suy nghĩ chín chắn, ăn nói chững chạc. Ông nói xuôi xị:
-Ờ, hôm qua bác Ba với ba cũng quá chén, hứa hẹn tầm phào, đúng là nghe không được chút nào! Con nói rất phải, chuyện vợ chồng là chuyện trọng đại, mình phải làm theo đúng thuần phong mỹ tục của ông bà truyền lại. Thôi, con xí xóa cho ba! Ra Giêng ba má sẽ tính chuyện đi hỏi vợ cho con.
Từ dưới bếp lên, bà Tư Trực lễ mễ bưng một mâm cơm còn bốc hơi nóng hổi. Bà nhác thấy hai cha con ngồi thủ thỉ chuyện gì coi bộ tương đắc lắm. Hắng giọng một cái, bà lên tiếng:
-Hai Sang, con phụ má sắp mâm cơm này lên bàn thờ để cúng ông bà đi con. Hai cha con thắp nhang giùm luôn thể.
Ông Tư Trực và cậu Hai Sang đứng dậy cùng một lúc. Ông Tư cũng còn lấn cấn về việc làm không phải của mình nên ngó có vẻ tư lự. Riêng cậu Hai Sang thì lòng vui như… Tết. Cậu thấy năm mới sao mà hanh thông quá, chưa gì đã được cha hứa hẹn sẽ đi hỏi vợ cho mình. Bất giác, cậu ngoảnh mặt hướng về phía căn nhà của ông Ba Lành cách nhà cậu không xa. Hình ảnh dịu dàng của cô Xuân Diệp hiện ra trong trí cậu. Nụ cười chúm chím của cô lúc nào cũng làm cậu Hai Sang xao xuyến, rung động nhẹ nhàng như một chiếc lá non mùa Xuân. (Trần C. Trí) [qd]















































































