Vĩnh Quyền, nhà văn vượt trên chính mình

Du Tử Lê

Nhà văn Vĩnh Quyền. (Hình: Facebook Quyền Vĩnh)

(Tiếp theo và hết)

Có người hỏi tôi, đâu là lý do đưa tôi tới cụm từ (thậm xưng): Vĩnh Quyền một “tín đồ sẵn sàng ‘tử đạo’ chữ nghĩa?”

Tôi trả lời, tôi đồng ý cụm từ tôi chọn để nói về nhà văn Vĩnh Quyền, một tên tuổi chưa quen thuộc lắm với độc giả Việt Nam có phần nào mang tính thậm xưng. Nhưng mặt khác, chỉ với cụm từ đó, nó mới phản ảnh được những cảm nhận của tôi sau khi đọc truyện ngắn của Vĩnh Quyền.

Xin được nói ngay rằng, không có trong tay nhiều lắm, truyện ngắn Vĩnh Quyền; nhưng truyện nào đọc qua, chúng cũng đều mang lại cho tôi, cảm giác bất ngờ. Ngây ngất.

Với riêng tôi thì, Vĩnh Quyền đã chủ tâm (can đảm) chọn cho ông “cửa hẹp,” là khuynh hướng văn chương mới, biến thân từ phong trào “Tiểu tuyết mới/ Nouveau Roman.” Khởi xướng bởi nhà văn Alain Robbe Grillet và bằng hữu của ông vào khoảng giữa thập niên 1950 ở Paris (1).

Tôi mượn hình ảnh “cửa hẹp” để nhấn mạnh tới sự kiện: Nhiều độc giả Việt Nam vẫn còn quen với loại truyện có cốt truyện; nhất là khía cạnh phân tích tâm lý, giải mã những trường hợp tình cảm éo le, khúc mắc, phức tạp… vốn cho họ cảm tưởng gần gũi, hoặc thấy như họ đã phần nào hiện diện trong truyện. Nhưng khuynh hướng văn chương mới thì, ngược lại. Chẳng những nó không dành chiếc ghế “chủ vị” cho cốt truyện và tâm lý nhân vật; mà, vai trò nhà văn cũng bị buộc phải bước khỏi ngôi vị “thượng đế” nắm trọn quyền sinh sát nhân vật, tô mầu, thêm thắt cho sự vật, thiên nhiên nữa.

Nói cách khác, tính lạnh lùng, khách quan của dòng văn chương mới hiện nay của thế giới, đã cho truyện kể một chân dung khác. Nó tựa như muốn thiết lập một rào cản, một khoảng cách giữa nhà văn hôm nay và người đọc quá khứ!? Sự thực, không phải thế.

Sự thực nhan sắc hay cái đẹp hôm nay của văn chương, được hình thành từ một quy chuẩn khác. Cũng tựa như trước đây, một phụ nữ được coi là đẹp chuẩn với da trắng, tóc dài, khuôn mặt trái xoan, nụ cười răng khểnh… Nhưng những tiêu chí này đã bị thời gian thay đổi dần bằng những tiêu chí mới mẻ, khác.

Tôi nghĩ nhà văn Vĩnh Quyền, hơn ai hết, biết rõ ông đã chọn cho ông những tiêu chí văn học mới… Nhưng chính chọn lựa bước vào “cửa hẹp” kia mà, truyện ngắn Vĩnh Quyền, theo tôi, đã bắt kịp, đã… “hợp dòng” được với trào lưu văn chương thế giới hôm nay.

Ngay từ nhan đề một trong những truyện đầu tiên của ông, tôi đọc được là bút ký “Đường Về Cổ Tích” (2), cũng đã tiên báo một tách thoát, một lên đường khác, dẫn tới một chân trời văn chương khác.

Câu chuyện nếu phải tóm tắt, thì, đó là chuyện một người cậu (Vĩnh Quyền) ở Việt Nam, nhận lời đón và, hướng dẫn một cô cháu tên Aiko, xa quê hương đã lâu, trở về, viếng thăm cố đô Huế, nơi lưu giữ thời con gái của mẹ cô.

Câu chuyện cũng được xây dựng trên ký ức (nhưng là ký ức có phần đã bị “hiện đại hóa”) của nhân vật người cậu dọc lộ trình đường bộ về Huế. Vĩnh Quyền viết:

“…Từ hướng Đà Nẵng ra tôi rẽ phải vào sân bay Phú Bài. Tất cả đã đổi thay sau những lần nâng cấp chuẩn quốc tế. Lâng lâng vui và không ngạc nhiên trước cái mới hiển nhiên nhưng vẫn thoáng ngậm ngùi khối kiến trúc đồ sộ chồng lấp cực đoan lên hình ảnh một sân bay nhỏ xinh những năm bảy mươi còn sót trong tôi.

(…)

“Cách trung tâm thành phố tám cây số, tôi rẽ trái lên núi Tam Thai, nói cậu sẽ đưa cháu viếng lăng các vua Nguyễn, nhưng đầu tiên phải là lăng vị vua không lăng cho đến mùa thu năm năm trước. Không hỏi nhưng ánh mắt Aiko là câu hỏi ngỡ ngàng thậm chí không hiểu. Với nụ cười kẻ tự cho phép kiêu hãnh trước việc làm không tưởng của mình, tôi tiếp: Là thời điểm cậu hoàn thành công trình xây lăng vua…”

Tới đây, chuyện kể của Vĩnh Quyền đã bước qua phần ba bút ký rồi; nhưng người đọc vẫn chưa thấy hé mở một dự báo bất ngờ, hấp dẫn nào mà, người Cậu, “hướng dẫn viên” trong chuyện sẽ mang lại cho cô cháu. Người con gái ở quê người, hai mươi năm sau mới trở về, mơ ước tìm lại phần đời đã qua của người mẹ mình. Truyện của Vĩnh Quyền vẫn “thong thả” nhẩn nha kể lại kỷ niệm mà tác giả có với người mẹ (thời thiếu nữ) của Aiko.

Kỷ niệm, trong dòng văn chương cũ là “chìa khóa vàng” của truyện kể. Nhưng trong truyện của Vĩnh Quyền, nó lại hiện ra như những chấm phá, hay chỉ là cái cớ, để ông gửi gấm một điều gì khác. Thí dụ thời gian là sát nhân hung bạo nhất của ký ức(?)

“Điều gì khác” trong chuyện kể của Vĩnh Quyền, có dễ là nguyên nhân chính khiến Aiko, không khỏi “ngỡ ngàng thậm chí không hiểu”!!

Và, tôi nghĩ, Aiko sẽ còn “ngỡ ngàng thậm chí không hiểu” hơn nữa, khi tác giả ra khỏi truyện kể của mình, bằng kết thúc tôi tin không ai có thể đoán trước (theo đúng phong cách văn chương mới):

“… Tiệc tẩy trần dài theo những mẩu chuyện như không bao giờ kết thúc cho đến khi trở chiều. Trong lúc tôi châm thuốc lá Aiko bảo cậu ơi chúng ta đi thăm mẹ nhé.

“Tôi khẽ lắc đầu nhìn khói thuốc tan nhanh trước mặt. Ngôi nhà xưa ấy không còn nữa cháu à.”

Vĩnh Quyền cho tôi cảm tưởng, có thể Aiko bị ngợp trong vòng xoáy ngỡ ngàng, nên cô đã bất ngờ, thêm một “ngỡ ngàng” khác, trước khi câu chuyện được hoàn toàn chấm dứt:

“Aiko ngậm ngùi nhưng không thất vọng như tôi đã lo lắng, lại là người nói ra lời an ủi: Vẫn còn trong cậu đó thôi. Cám ơn cậu đã truyền ký ức về mẹ cho cháu…”

Cũng thế, với truyện “Sói Hoàng Hôn” (3) được nhiều nhà xuất bản ngoại quốc chú ý, cũng như được một số nhà phê bình Mỹ đề cập… Vĩnh Quyền vẫn cho thấy những bứt phá, tách thoát khỏi trói buộc của nền nếp văn chương cũ, bằng những tiêu chí nhận diện như:

-Trả lại khách quan tối đa cho sự việc – Xóa bỏ hẳn vai trò nhà văn là…”thượng đế” qua những phân tích tâm lý – Nội dung áp đặt… Dẫn tới kết luận đã được nhà văn định trước…

Nhờ những tiêu chí vừa nêu mà, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra rằng: Mọi sự việc chỉ là cái cớ để văn chương thực sự là văn chương, nằm ngoài mọi toan tính, chủ quan của nhà văn trong quá khứ.

Phải chăng, chính vì chọn lựa bước vào “cửa hẹp” mà, Vĩnh Quyền, cùng một số nhà văn hôm nay đã, đến được mặt-bằng của văn chương thế giới?

Nói cách khác, theo tôi, Vĩnh Quyền nhà văn đã vượt trên chính mình. Điều không dễ với khá nhiều người cầm bút, còn lại.

Du Tử Lê,

(Garden Grove, Tháng Hai, 2019)


Chú thích:

(1)Theo nhà văn R.M-Albérès một trong những chủ biên của cuốn “Văn Học Thế Giới Hiện Đại,” viết về hiện tượng “Tiểu thuyết mới” thì ngay tự những năm 1925, Adré Gide khi viết cuốn “Bọn làm bạc giả” đã đi ngược lại mọi truyền thông truyện kể và, cuốn “Ulysse của James Joyce cũng đã cho thấy khuynh hướng giữ nguyên trạng của sự vật, hay sự đòi hỏi tính khách quan tối đa nơi nhà văn. Vẫn theo R.M-Albérès thì trước thế chiến văn nữ Nathalie Sarraute đã sớm cho thấy bà bị ảnh hưởng của phong cách văn chương James Joyce. Theo ghi nhận của một số nhà văn Phái thì chính tinh cực đoan của phong trào “Tiểu thuyết mới” khiến nhiều người cầm bút không thể đáp ứng và độc giả cũng khó bước vào… Vì thế, sau khoảng hơn một thập niên, phong trào “Tiểu thuyết mới” đã biến thái thành dòng “văn chương mới,” như ta thấy hôm nay.

Tác phẩm “Văn Học Thế Giới Hiện Đại,” bản dịch tiếng Việt của Bửu Ý, do nhà An Tiêm xb tại Sài Gòn, 1973 – Được nhà xuất bản Xuân Thu, Hoa Kỳ chụp lại, in ra tại Hoa Kỳ, sau 1975, không ghi nguồn gốc, nơi chốn và thời gian…

(2), (3) Nguồn: Website dutule.com

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.