Lâm Hoài Thạch/Người Việt
CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Dịch bệnh COVID 19 tại Việt Nam, sự cách ly xã hội xem như đã được giảm trên 80%, kinh tế toàn nước được mở lại rất nhiều, nhưng vấn đề “cơm áo” đối với người dân nghèo vẫn còn nhiều bấp bênh!
Trong số những gia đình nghèo có gia đình của ông Trần Thanh Nhàn, 55 tuổi, cư dân ấp Thới Hòa, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, sống bằng nghề chạy xe ôm.
Ông Nhàn kể: “Hơn hai tuần cách ly xã hội do bệnh dịch COVID-19, thì nghề xe ôm của chúng tôi gần như bị kiệt quệ hoàn toàn, vì ít có người ra đường. Có hôm, tôi ngồi tại địa điểm đậu xe để chờ khách gọi đi, nhưng suốt cả ngày mà cũng không có ai đến nhờ mình đưa đi đâu cả. Có bữa trong gia đình hết tiền, cạn gạo, nhưng vợ chồng tôi cũng ráng đi hỏi ‘tiền vay, bạc góp’ để mua thức ăn cho đủ bốn miệng ăn trong gia đình.”
“Sau hai tuần lễ cách ly xã hội, thì một số dân cư hoạt động trở lại trong nhiều nghề sống ngoài đường phố, nên nghề xe ôm chúng tôi cũng được tạm sống cho qua ngày,” ông Nhàn nói thêm.
Cuộc đời của hai vợ chồng đều có tên Nhàn, chồng là Trần Thanh Nhàn, vợ là Hồ Thị Nhàn, 53 tuổi, sau 27 năm chung sống, họ đã gắn bó với nhau trong mái ấm gia đình với ba người con. Mỗi ngày chị Nhàn đi rao bán từng chai nước mát, chanh dây ngoài đường, còn ông Nhàn thì chạy xe ôm để nuôi đứa con gái sắp được tốt nghiệp Đại Học Y Dược.

Chị Nhàn kể: “Vợ chồng tôi thành hôn lúc tôi 26 tuổi và chồng tôi 28 tuổi. Lúc đó, vì gia đình chúng tôi đều nghèo, không có của cải hoặc đất đai của cha mẹ để lại cho chồng lẫn vợ, nên chồng tôi phải sống bằng nghề chạy xe ôm, còn tôi ‘buôn gánh bán bưng.’ Vì chung cùng số phận nghèo nên chúng tôi mới thông cảm cho nhau.”
Tuy nghèo, nhưng ý chí phấn đấu trong cuộc sống từ hai bàn tay trắng của đôi vợ chồng rất lớn. Vì họ nghĩ rằng, nếu cố gắng làm việc thì cũng có ngày gia đình được sáng sủa hơn.
Ông Nhàn cười nhẹ kể: “Khi có vợ thì tinh thần làm việc của mình lại càng phấn khởi hơn. Tôi còn nhớ hơn 26 năm trước, nghề chạy xe ôm của chúng tôi chưa có đông như lúc này, vì tiền bạc lúc đó muốn mua sắm một chiếc xe để chạy thì cũng mất trên 15 triệu, đó là loại xe ‘dỏm’ của Trung Quốc, còn loại xe của Nhật thì phải tốn trên 25 triệu. Trung bình mỗi ngày tôi chạy được khoảng 50 ngàn mà thôi, thì cũng đủ sống mà còn dư chút đỉnh nữa. Nhưng đến khi có vợ thì tôi cứ chạy liên miên trong bất cứ thời gian nào, ai muốn đi đâu, xa cách mấy thì tôi vẫn chạy. Lúc đó, có ngày tôi kiếm được trên 100 ngàn.”
Người ta nói, “vợ chồng đồng lòng thì tát biển đông cũng cạn.” Vì thế, chẳng những anh Nhàn đã “hừng chí” làm ăn khi đã có vợ, mà vợ của anh cũng có tâm trạng như vậy.
Bà Nhàn nói: “Bởi vậy, khi mình nghèo thì thường bị người ta khi dễ, không phải chỉ người ngoài thôi, mà trong dòng họ của mình cũng có người xem thường mình nữa, nên đến lúc có chồng thì không biết tại sao tôi lại có ý nghĩ là mình phải làm sao để có được nhiều tiền. Mặc dù mỗi ngày tôi cứ bưng từng xề bắp, khoai luộc, trái cây để đi rao bán giữa chợ đời.”
Năm 1994, vợ chồng ông Nhàn sanh đứa con trai đầu lòng tên Trần Thái Duy. Năm 1998, có thêm đứa con gái tên Trần Vi Quỳnh.
Rồi cuộc đời của đôi vợ chồng “song Nhàn” cũng đến lúc được toại nguyện theo ước muốn. Sau tám năm tình nghĩa mặn nồng cùng chung chí hướng “tát biển đông” giữa chợ đời, nên hai vợ chồng đã để dành được một số tiền.

Chị Nhàn kể tiếp: “Khi có dư chút đỉnh, tôi mới nói với chồng tôi rằng, hiện tại công việc làm ruộng lúa nhờ phân bón tốt, nên nông dân đã thu hoạch được nhiều vụ lúa trong năm, mà xứ của mình cũng chưa có nhà máy xay lúa nhiều. Hơn nữa, ngân hàng Nông Nghiệp của huyện lúc nào cũng có ý cho dân mượn tiền để làm ăn trong bất cứ ngành nghề có liên quan đến nông nghiệp.”
“Tôi nghe bà xã tôi bàng về vụ làm nhà máy xay lúa thì cũng đúng, nên tôi quyết định là đi vay thêm tiền của ngân hàng để làm nhà máy xay lúa,” ông Nhàn khẳng định.
Sau đó, anh chị Nhàn mới mượn tiền của ngân hàng để tạo dựng một nhà máy xay lúa trên miếng đất tại nhà của họ nằm cặp bên con sông. Tuy nhà máy của họ không lớn, nhưng cũng kiếm sống được qua ngày và có tiền để lo cho con ăn học.
Bà Nhàn tâm tình: “không phải ai làm nhà máy xay lúa là cũng khá giả hết đâu, trừ khi những người có vốn liếng nhiều thì nhà máy của họ được trang bị dụng cụ đầy đủ, máy móc thuộc công nghệ tốt, nên công việc làm ăn của họ ít khi bị trục trặc. Còn nhà máy của chúng tôi, máy thì cũ nên cứ hư tới hư lui hoài, mà còn phải lo tiền lãi để đóng cho ngân hàng hàng tháng và còn tiền lo cho con đi học nữa, cho nên lúc đó gia đình chúng tôi cũng đủ sống qua ngày chớ không dư dả gì hết.”
Ông Nhàn buồn bã tiếp lời: “Bắt đầu năm 2010 thì có thêm những nhà máy xay lúa thật to mọc lên trên xứ này, do từ vốn liếng của những ‘đại gia’ ở Sài Gòn muốn về nơi này để khuếch trương ngành nông nghiệp. Năm 2011, chúng tôi có thêm đứa con trai út tên Trần Nam Huy. Rồi cũng kể từ đó, nhà máy của chúng tôi bị họ đè bẹp rất nặng, nhưng vợ chồng tôi vẫn cố gắng ‘còn nước thì mình còn tát’ để cho nhà máy được thu hoạch hằng ngày.”

Cũng theo vợ chồng ông Nhàn kể, đến năm 2015 thì nhà máy của ông bà Nhàn bị kiệt quệ hoàn toàn, vì không có ai đến để xây lúa nữa. Lúc đó, người con trai lớn là Trần Thái Duy vì buồn tủi công chuyện làm ăn của cha mẹ bị tổn thất nặng, nên thi rớt vào Đại Học Kinh Tế Quốc Tế. Rồi sau đó, Thái Duy phải đi nghĩa vụ quân sự.
Cuộc sống thăng trầm của đôi vợ chồng từ hai bàn tay trắng cho đến lúc trở thành chủ một nhà máy xay lúa. Rồi họ lại bị “ngã ngựa,” đến nổi tất cả tài sản trong bao nhiêu năm gầy dựng đều bị tiêu tan, mà còn phải mang thêm nợ nần chồng chất!
Đến năm 2016, ông bà Nhàn bắt đầu phát mãi những máy móc, dụng cụ của nhà máy để có tiền lo cho đứa con gái bắt đầu thi đậu vào Đại Học Y Dược Cần Thơ. Và, cũng kể tứ đó, bà Nhàn phải lên Sài Gòn để đi làm mướn, còn anh Nhàn thì ở lại nhà để trông coi đứa con nhỏ dại và trở lại sống bằng nghề chạy xe ôm.
Tuy trong hoàn cảnh khốn khổ, ông Nhàn vẫn khẳng định: “Tiêu tan sản nghiệp, vợ chồng tôi phải trở lại cuộc sống nghèo khổ như ngày mới gặp nhau. Nhưng, cho dù hoàn cảnh nào, cuộc sống cực khổ ra sao, thì chúng tôi vẫn kiên trì chấp nhận để kiếm tiền nuôi đứa con gái của chúng tôi vào Đại Học Y Dược.”
Năm 2018, bà Nhàn trở về quê để gần gũi với gia đình, vì bà cảm thấy xa chồng, xa con hoài cũng không tiện, nên bà quyết định về quê tiếp chồng nuôi đứa con gái đang học đại học, và đứa con trái út còn học tiểu học.
Bà Nhàn kể: “Trở về quê nhà, mỗi ngày từ 4 giờ sáng tôi nấu nước nha đam; chanh dây; sữa bắp; sâm,…Rồi chờ những loại nước nấu này ngụi dần, tôi mới cho vào chai để mang ra ngoài đường phố bán cho bà con với giá 5,000 đồng mỗi chai.”
Hiện giờ, người con trai lớn đã có việc làm tại xã đội huyện Thới Lai. Đứa con trai út đã được 9 tuổi vẫn con đi học. Đứa con gái Trần Vi Quỳnh đã học xong bốn năm Đại Học Y Dược Cần Thơ, và chỉ còn một năm nữa là cô được tốt nghiệp để trở thành một dược sĩ có khả năng bào chế thuốc.
Ông Nhàn cười vui bên đứa con gái: “Cuối tuần nào con gái cũng về thăm cha mẹ và em của nó. Tuy rằng, chỉ còn một năm nữa là nó được tốt nghiệp ngành cao học dược sĩ, nhưng tuần nào thì chúng tôi cũng cho nó tiền để chi phí khi đi học.”
Cô Trần Vi Quỳnh, 22 tuổi, sinh viên năm thứ tư Đại Học Y Dược Cần Thơ tâm tình: “Tôi là đứa con gái trong một gia đình nghèo từ lúc còn bé. Niềm hãnh diện của tôi là được lớn khôn bằng công lao cực khổ của cha mẹ mình. Vì thế, tôi phải trở thành một người giúp ích cho xã hội sau này để đền đáp lại công ơn trời biển của cha mẹ.” [kn]















































































