Trân Văn/Người Việt
Đến giờ, có lẽ đã đủ dữ kiện để nhìn lại những yếu tố thật/hư, thiệt/giả liên quan đến câu chuyện tìm kiếm, truy điệu “731 liệt sĩ” từng được chôn cất tại Nghĩa Địa Đô Thành (nay là công viên Lê Thị Riêng ở quận 10, TP.HCM) cách nay 58 năm để đánh giá về những thứ mà chính quyền Việt Nam dán nhãn là “ghi công” và “tri ân.”
Trước tiên, việc nhìn nhận con số “731 liệt sĩ” vừa được cải táng từ công viên, gián tiếp phủ nhận cái gọi là “thắng lợi chiến lược” của “cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân Mậu Thân 1968,” nhờ “tư duy, trí tuệ và tài thao lược của đảng CSVN trong việc đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của kẻ thù.”
Nghĩa Địa Đô Thành chỉ là một trong nhiều nơi chôn cất hàng trăm ngàn người lính thuộc phía Bắc Việt đã chết tại miền Nam trong Mùa Xuân Mậu Thân 1968. Đảng CSVN xác định có “111,306 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương” (Lịch sử đảng CSVN – Tập 2, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia 1995), nhưng dựa vào thực địa, các bên có liên quan khác từng ước tính, trong ba đợt tấn công hồi năm 1968, thiệt hại nhân mạng của phía Bắc Việt tối thiểu cũng khoảng 180,000. Lẽ nào tổn thất nhân mạng như thế là tất yếu của “nghệ thuật quân sự độc đáo?”
Sau trận đánh đó, có rất nhiều thông tin, hình ảnh, nhân chứng của hai bên, cùng đề cập đến những ngôi mộ tập thể, mai táng cả liệt sĩ của phía Bắc Việt lẫn thường dân tử vong do chiến cuộc. Bảy năm sau sự kiện này, đảng CSVN “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” nhưng họ phớt lờ việc tìm kiếm, quy tập “anh hùng, liệt sĩ.” Thậm chí, khi giải tỏa nghĩa địa để xây dựng công viên vào cuối thập niên 1980, họ tiếp tục làm ngơ, bất chấp đề nghị tìm kiếm, quy tập liệt sĩ đã an táng tại đó.
Vì sao phải hơn 50 năm sau đảng CSVN mới thực hiện “chiến dịch 500 ngày đêm” (diễn ra từ 15 Tháng Ba, 2026 đến 27 Tháng Bảy, 2027) để tìm kiếm, quy tập khoảng 7,000 hài cốt liệt sĩ, lấy mẫu khoảng 230,000 mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính, và giám định ADN khoảng 18,000 mẫu. Chính quyền còn định xây dựng cơ sở dữ liệu gen của thân nhân liệt sĩ và khẳng định đó là “chiến dịch có quy mô lớn nhất từ trước tới nay về công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.”
Theo các dữ liệu do chính quyền CSVN công bố, từ 1945 – 1975, có ít nhất 1.2 triệu người là liệt sĩ. Riêng giai đoạn 1954 – 1975, có từ 850,000 đến hơn 1 triệu liệt sĩ ở cả miền Nam, Lào, và Cambodia. Trong số này, có khoảng 175,000 trường hợp chưa tìm thấy hài cốt, khoảng 300,000 hài cốt đã được quy tập nhưng chưa thể xác định danh tính.
Để có cơ sở đánh giá, nhận định về thành tâm, thiện ý của một hệ thống công quyền đối với những người đã đóng góp máu xương cho hệ thống ấy, hãy thử so sánh công việc tìm kiếm, quy tập liệt sĩ của chính quyền CSVN trên lãnh thổ Việt Nam với công việc tương tự của chính quyền Mỹ đối với quân nhân Mỹ thất tung trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.
***
Mỹ đã tổ chức nhận dạng/ghi chép về quân nhân mất tích, nơi chôn cất quân nhân tử trận từ hạ bán thế kỷ 19, đến năm 1917 thì thành lập cơ quan chuyên trách về vấn đề này. Sau nhiều lần cải tổ hệ thống, năm 2015, DPAA (cơ quan chuyên trách về tù binh và quân nhân mất tích) ra đời từ việc hợp nhất DPMO (cơ quan chuyên trách về tù binh và quân nhân mất tích) với JPAC (cơ quan điều tra, tìm kiếm, thu hồi, nhận dạng hài cốt), đồng thời đảm nhận thêm một số chức năng của LSEL (phòng thí nghiệm chuyên phân tích hiện vật liên quan đến các trường hợp mất tích).
DPAA tiếp tục làm rõ số phận những quân nhân Mỹ còn mất tích từ Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh lạnh, và một số cuộc xung đột khác. Phạm vi hoạt động của DPAA mang tính toàn cầu. Tại Châu Á, ngoài Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Cambodia, Philippines, Miến Điện), còn có bán đảo Triều Tiên, Papua New Guinea, quần đảo Marshall . Ở Châu Âu có Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Hòa Lan, Luxembourg, Áo, Ba Lan, Croatia, và Anh. Năm 2024, DPAA từng cho biết, họ thực hiện nhiệm vụ ở 45 quốc gia.
Chính quyền CSVN từng sử dụng quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam như một công cụ để buộc Hoa Kỳ nhượng bộ nhiều vấn đề trong đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995. Mỹ bắt đầu công cuộc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích tại Việt Nam từ năm 1985, và mở rộng vào năm 1988 cho đến nay. Năm 1991, DPMO (sau này là DPAA) đặt bộ phận thường trú tại Hà Nội. Năm 2023, tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam cho biết, mỗi năm, hai bên phối hợp tổ chức khoảng bốn đợt tìm kiếm trên thực địa.
***
Dựa vào những dữ liệu mà hệ thống công quyền Việt Nam từng công bố, vẫn còn ít nhất 475,000 người lính thuộc phía Bắc Việt thất tung. Vì sao sau 50 năm mới có “chiến dịch” được quảng cáo là “quy mô” nhưng dẫu “lớn nhất” cũng chỉ gói gọn trong “500 ngày đêm” và chỉ muốn tìm kiếm, quy tập khoảng 7,000 liệt sĩ? So với “đế quốc Mỹ” thì “ta” không chỉ thiếu từ thủy chung, đến nhẫn nại đối với liệt sĩ mà cách thức tìm kiếm, quy tập có rất nhiều điểm đáng bàn và đáng ngờ. Dường như “ghi công” cũng như “tri ân” chỉ là “khua môi, múa mỏ.” [đ.d.]
(còn tiếp)