Ðau dạ dày (tiếp theo)

Bác Sĩ Ðặng Trần Hào

 

LTS: Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại (714) 531-8229 hoặc email [email protected].

 

Kỳ trước chúng ta đã đi tìm hiểu đau dạ dày thuộc thực chứng, kỳ này chúng ta tiếp tục tìm hiểu về đau dạ dày hư chứng và thực, hư lẫn lộn gồm có:

-Tỳ khí hư

-Thận và tỳ dương hư

-Can khí phạm vị (hư thực lẫn lộn)

Theo Hải Thượng Lãn Ông lý giải: “Sự sống con người lấy tỳ vị làm chủ. Tỳ giữ chức vận hóa, vị giữ chức thu nạp. Một bên nạp, một bên vận hóa, chuyển hóa thức ăn thành chất tinh hoa, sinh ra tinh khí, nuôi dưỡng cơ thể, thấu suốt các kinh mạch và lạc mạch toàn thân”.

Theo sách Hoàng Ðế Nội Kinh “Tỳ (lá lách) làm chủ ở trung tiêu, quan hệ biểu lý với vị, chủ việc vận hóa thực phẩm và nước uống nuôi dưỡng toàn thân, đồng thời chủ về da thịt, thống nhiếp huyết dịch. Tỳ vị hư thì ăn uống kém sút, khó tiêu, bụng trướng, đại tiện lỏng, suy nhược, sắc mặt vàng úa.

Vị (dạ dày) là bể chứa cơm, chủ thu nạp. Phàm ăn uống không tiết độ, no đói thất thường, nóng lạnh chợt biến đều ảnh hưởng tới vị. Gây chứng vị hàn, nhiệt, thực và hư. Chứng vị hư có hiện tượng bụng no đầy, không muốn ăn vì khó tiêu.”

Ngoài ra Hải Thượng Lãn Ông (Y tổ ngành Y Khoa Cổ Truyền Việt Nam) còn giải thích: “Mừng, giận, lo, sợ, buồn, khiếp đảm đều gây tổn thương tới nguyên khí” vì căng thẳng tinh thần thì khí uất, vì khí uất thì tổn thương can mộc, can mộc vốn khắc tỳ thổ, nên can khí phạm vị, khiến cơ năng lo việc tiêu hóa hấp thụ rối loạn, lâu ngày phát sinh ra bệnh đau bao tử và đầy trướng.”

 

Ðau bụng do tỳ khí suy

 

Ðau vùng thượng vị và hạ vị liên miên, ê ẩm vùng thượng vị, đau có khi lan rộng ra cả hai bên bụng dưới, Mùa Ðông đau nhiều hơn Mùa Hè, thường đau vào lúc đói, chườm ấm dễ chịu, thích ăn đồ nóng, ăn đồ lạnh vào thì dạ dày khó chịu, thường đầy bụng, đại tiên phân nhão hoặc lỏng bất thường, ợ hơi, chậm tiêu, biếng ăn, bụng trướng, miệng nhạt, người mệt mỏi, chân tay đôi khi bất lực, sợ lạnh. Khi bệnh nhân nói tiếng thường nhỏ yếu, hụt hơi, sắc mặt vàng nhợt. Mạch trầm trì, vô lực. Rêu lưỡi mỏng, trắng lợt.

Phương pháp chữa: Kiện tỳ, hòa vị, nếu tỳ hư hàn thì ôn trung, kiện tỳ.

Hương sa lục quân tử thang

1.Sâm hoa kỳ 12 grm

2.Bạch truật 9 grm

3.Phục linh 9 grm

4.Cam thảo 6 grm

5.Bán hạ chế 9 grm

6.Mộc hương 6 grm

7.Sinh khương 3 lát

8.Sa nhân 6 grm

9.Trần bì 6 grm

10.Ðại táo 3 trái

-Nhân sâm: Bổ tỳ và bao tử.

-Bạch truật: Tiêu thấp trong bao tử.

-Phục linh: Thông thủy tích trong bao tử.

Cam thảo: Phối hợp và điều động các vị thuốc.

-Sa nhân, mộc hương, trần bì, sinh khương: Bổ tỳ vị khí, kiện toàn tiêu hóa, giúp ăn ngon.

-Bán hạ: Chữa nôn mửa do tỳ vị hư hàn gây ra.

 

Ðau bụng do tỳ và thận dương suy

 

Thường gặp ở người già đau bụng vùng hạ vị, phân còn sống, bụng đầy trướng, biếng ăn, chậm tiêu hóa, chân tay lạnh, thích nóng, đi tiểu nhiều lần, đau nhức, chân yếu bất lực. Mạch trầm, tế và nhược. Rêu lưỡi trắng và dày.

Phương pháp chữ trị: Ôn bổ tỳ và thận dương.

Phụ tử lý trung thang

1.Phụ tử chế 9 grm

2.Ðảng sâm 12 grm

3.Bạch truật 12 grm

4.Cam thảo 6 grm

5.Can khương 9 grm

6.Phá cố chỉ 12 grm

7.Ngô thù du 6 grm

8.Bạch đậu khấu 6 grm

9.Ngũ vị tử 6 grm

Gia:

10.Bạch biển đậu 9 grm

11.Mộc hương 9 grm

12.Sa nhân 6 grm

13.Thần khúc 9 grm

14.Sơn tra 12 grm

Ðảng sâm, bạch truật, can khương, phá cốt chỉ, ngô thù du, ngũ vị tử: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa và tán hàn.

Phụ tử: Bổ thận dương và ôn trung tán hàn.

Mộc hương, sa nhân, bạch biển đậu, thần khúc, sơn tra: Tản khí, ôn tỳ vị, tiêu thấp, tiêu thực, kiện toàn tiêu hóa, ngưng tiêu chảy.

Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

 

Ðau bụng do can khí phạm vị

 

Bệnh nhân sắc diện tương đối khỏe mạnh, sắc mặt đỏ, tròng mắt sắc đỏ đậm hoặc lợt, môi đỏ thấm hoặc tím. Giọng nói bệnh nhân mạnh khỏe, hơi thở hôi. Bệnh nhân khai cơn đau không nhất định, có lúc đau dữ dội lan ra hai bên giang sườn, đau lan ra sau lưng trên, vùng với tay không tới, no đói đều đau, nhưng phần lớn đau sau khi ăn. Ban ngày Mùa Hè đau nhiều hơn ban đêm Mùa Ðông. Nắn bụng cảm thấy đau không chịu nổi. Có lúc cơn đau lại lắng dịu như lành bệnh, miệng đắng, thích ăn đồ lạnh, khát nước, hay ợ nóng, nôn nước chua, nước tiểu vàng, táo bón. Rêu lưỡi trắng, hoặc vàng dầy và khô. Mạch hoạt sác, hữu lực và đại.

Pháp trị liệu: Sơ can tiết nhiệt, lý khí hòa vị, giáng nghịch, chỉ thống.

Sài hồ sơ can gia giảm

1.Sài hồ 9 grm

2.Hương phụ chế 9 grm

3.Chỉ xác 12 grm

4.Ðại Phúc bì 9 grm

5.Xuyên luyện tử 9 grm

6.Diên hổ sách 9 grm

7.Trần bì 6 grm

8.Mộc hương 6 grm

9.Bạch thược 15 grm

10.Mạch nha 9 grm

11.Kê nội kim 9 grm

12.Cam thảo 3 grm

Sài hồ: Sơ gan.

Hương phụ, chỉ xác, mộc hương, xuyên luyện tử: Tản khí, ôn trung giúp kiện toàn tiêu hóa.

Bạch thược: Mát gan, giảm đau, bổ huyết, liễm âm, giảm bụng ngực đau trướng.

Ðại phúc bì: Giáng khí.

Mạch nha, kê nội kim: Bổ tỳ vị và kiện toàn tiêu hóa.

Cam thảo: Bổ tỳ khí và phối hợp các vị thuốc.

Theo danh y Tuệ Tĩnh đã ghi chép tóm tắt: “Tâm vị thống là đau vùng dạ dày. Chứng ấy có 9 loại, nhưng chung qui do đàm uất, thất tình, thất khí, xúc phạm mà gây ra thương tổn. Ngày qua ngày, năm qua năm, căn nguyên dồn dập, uất tích thành đờm, đờm hỏa nung nấu khiến huyết cũng đi càn, đờm máu tích tụ, ngăn trở con đường đi xuống mới sinh ra đau. Cho nên pháp trị phải phân biệt rõ hàn, nhiệt, hư, thực, khí, trùng mà sử phương”.

(Còn tiếp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT