Du Tử Lê
(Tiếp theo và hết)
Tôi nghĩ, độc giả, luôn cả những người trong giới, nếu đọc kỹ, với con mắt có ít, nhiều hiểu biết về kỹ thuật làm thơ, cũng như về tu từ và, mỹ học, sẽ không khỏi ngạc nhiên khi rải rác trong thi phẩm “Viết trong bóng tối. Amen” của Lê Thánh Thư, còn có rất nhiều những con chữ bất ngờ, không thua gì “hai chữ cày xới” trong cụm từ “cày xới hoàng hôn.” Thí dụ:
Họa sĩ Lê Thánh Thư trong xưởng vẽ 2012.
Em ạ
Ðường soi khuya khoắt đom đóm
Mộng lẩn vào đâu đi đâu
Quẫn mái nghèo
Lệch gió
Rẻo vườn thất lộc
Người đi.
Ðom đóm về
Vẽ lửa sân hoang
Ðêm căng chỉ ngang nhà
Em dập dềnh
Rách lụa
(Trích “Em, lụa là,” vtbt.A, trang 92.)
Với hai khổ thơ, cộng chung chỉ có 12 câu, vậy mà đã có khá nhiều chữ sống động, ấn tượng như “quẫn” (mái nhà,) hay, “đêm ‘căng chỉ’ ngang nhà”…
Hoặc:
Ngày lẻ
Con chim đầu tiên chết khát
Người nơi đâu về
Bên đường rung rảy váy
Khoe bầu vú hoa thuốc phiện
Ðêm dầm ướt hiểm…
(Trích “Ngày lẻ,” vtbt.A, trang 74.)
Với cá nhân tôi, ảnh-dẫn/guilding image người đàn bà “rung rảy váy” đã lung linh biết bao… Nhưng khi mạch thơ đi tới kết luận mang tính biểu cảm cao là “Khoe bầu vú hoa thuốc phiện / Ðêm dầm ớt hiểm” thì, đó không phải là những con chữ (hình ảnh) ta có nhiều cơ hội bắt gặp nơi những tác giả khác.
Tôi không biết, Lê Thánh Thư sau một thời gian tạm “quên” thi ca để vung cọ với những rung động, tìm kiếm mới mẻ, mở ra những chân trời khác, đã ảnh hưởng vào cõi giới thi ca họ Lê, khi ông trở về đầu nguồn, hay ngược lại?
Ðường phía núi
Cỏ tàn khô vất vơ
Em lùa bò đi để lại mùi da ngai ngái
Dưới chân núi
Về muộn
Gió thơm mùi thuốc rê tẩm mật
Khói vẽ trời xanh
Khói cuộn người mơ mòng
Chiều cúi mặt mà đi
Da thịt người xông khói.
Mùa quê bụi bặm
Cây rạt rào gió
Cỏ khô rống tiếng bò
Ðường im trườn như rắn…”
(Trích “Mùi Quê,” vtbt.A. Trang 120)
Hoặc:
Giữa thế giới đầy lông chó rụng
Một người
Bí mật mọc răng nanh
Nhai rau ráu nhã nhạc
Ếm giọng thất truyền.
Giữa mùa định kỳ thay lông chim biếng hót
Một người
Công khai lột lưỡi
Rống lên
Khúc Caprice 24 của Paganini.
Giữa bóng đen sổ nét mực tàu
Bầy muỗi đói vẽ rồng bay ánh sáng
Một người
Mơ thành sâu bọ
Ðo mình trên đường ngũ cốc.
Giữa giấc mơ hình sự
Thấy đám tù nhân chỉ điểm từng khuôn mặt
Một người
À í a
Requiem… Requiem…”
(“Viết trong bóng tối. Amen,” trang 84. Trọn bài.)
Tôi cũng không biết, khi họ Lê triệt để khai thác đặc tính của màu Acrylic là sự khô nhanh và, độ dầy của loại màu này, đã cho phép ông tạo thành chiều thứ ba nơi những bức tranh tưởng chừng như không có matière của ông?
Với số người không hiểu rõ kỹ thuật và, những đổi mới của hội họa hiện đại thì, tranh của Lê Thánh Thư là loại tranh phẳng, bẹt (flat.) Không có matière hiểu theo nghĩa không được tô, đắp nhiều lớp màu lót, trước khi chính thức tạo hình hoặc phân bố màu theo cảm xúc. Sự thực tranh của ông, kể cả những bức ông vẽ một cách cực kỳ đơn giản (nhưng khá khó khăn khi thể hiện) là hình ảnh những cây lau, sậy, những tơ trời, những giải khói vươn giữa khoảng trời bát ngát, nếu tinh ý, sẽ nhận ra độ dày, nổi cộm của chúng.
Ðiển hình, cụ thể hơn, tôi được xem một bức tranh Lê Thánh Thư, với trọng điểm là con mắt cách điệu. Ông đã dùng dao khoét một đường cong, dài sâu giữa mí mắt và, con mắt, khi Acrylic còn ướt. Sau đấy, ông phết một lớp Oil painting màu xanh xám, để người xem tranh, chỉ cần một chút tinh ý thôi, cũng sẽ nhận ra độ sâu của con mắt hay, chiều thứ ba mà, bức tranh của ông muốn biểu hiện.
Ghi lại một trong những nỗ lực làm mới hội họa của Lê Thánh Thư, tôi chỉ muốn nhấn mạnh: Tính khai phá, nỗ lực mở đường của họ Lê, là một phần bản chất bẩm sinh của ông (?).Từ đó, tôi cho rằng, với khởi nguồn là thi ca, Lê Thánh Thư đã rất sớm, có cho riêng mình tiêu chí: Cách tân. (*)
Cánh Ðồng, tranh Lê Thánh Thư 1997.
Nhưng, vẫn theo tôi, dù ở lãnh vực hội họa hay thi ca (nhất là thi ca) họ Lê không chỉ có một trăn trở duy nhất là, làm mới. Tâm hồn Lê Thánh Thư (qua thi ca) còn cho thấy rất rõ những đau đáu của ông về đời thường. Về thân phận hèn mọn của con người trong cuồng nộ giông, bão thời thế:
Mày tự khai
Hay mày không
Mày phản động
Hay mày không
Mày muốn sống
Hay mày không
Mày tự do
Hay mày không…
(Trích “Bài khảo cung (vấn & đáp)” vtbt.A., Trang 85.)
Hay:
Có những điều nên nói lại thôi
Mỗi người
Một mòn mỏi
Mỗi người
Một nanh sói
Mỗi người
Một giấc mơ còi…
(Trích “Ba bài tự khai”, vtbt.A. Trang 89.)
Hoặc nữa:
Sợ hãi đã ngấm vào máu
Sợ hãi đã ăn tận xương
Xứ sở này
Người sợ tiếng động
Người sợ đám đông
Người sợ tường lửa
Người sợ gõ cửa
Người sợ chó sủa
Người sợ mèo kêu
Người sợ chim hót
Người sợ nhòm ngó
Người sợ tiếng chuông
Người sợ nhịp chân
Người sợ tin nhắn
Người sợ giấy mời
Người sợ lời cuối
Người sợ thăm hỏi…
(Trích “Về nỗi sợ hãi,” vtbt.A. Trang 112.)
Hiển nhiên, trong cảm nhận của tôi, Lê Thánh Thư là một nhà thơ, một họa sĩ tài hoa, với nhiều biến khúc huê dạng.
Tuy nhiên, nếu có dịp, tôi sẽ hỏi ông, chỉ với bài thơ “Về nỗi sợ hãi,” nếu phải chuyển thể qua đường nét và, sắc mầu, ông sẽ vẽ thành bao nhiêu bức tranh?
Và, ông có tin đó là những chuyển thể trung thực?
Du Tử Lê
(Calf. 10 tháng 6, 2012)
Chú thích:
(*) Lê Thánh Thư sinh năm 1956 tại Quy Nhơn, từng có thời gian là tu sĩ Thiên Chúa Giáo. Kể từ năm 1996, ông liên tiếp nhận được những giải thưởng lớn về hội họa của nhiều quốc gia khác nhau. Thơ ông phổ biến trên các tạp chí Thơ, Hợp Lưu, Tiền Vệ, Da Màu, Litviet, Văn Chương Việt… Cùng với gia đình, ông hiện sống và, làm việc tại Saigon.

















































































