Trần Doãn Nho
Đầu Tháng Chín, 1993, tôi rời khỏi Việt Nam, trong tâm trạng một đi không trở lại. Sau hơn ba thập niên bon chen phấn đấu để tồn tại, dù vẫn chập chờn lạc lõng trong thân phận một người xa lạ, hải ngoại đã trở thành một phần đời thân thiết của tôi. Khi tôi đến, thế giới văn chương đã ở đó, lao xao, rộn ràng. Những sản phẩm chữ nghĩa khiêm tốn, nghèo nàn thuở ban đầu – phản ứng có điều kiện trước hoàn cảnh ngặt nghèo của những người tị nạn – đã lớn lên thành một nền, một thực thể, một hiện diện. Dù xa khuất, xa vắng và xa xăm với cội với nguồn, nó đẫm mùi quê. Thì, quê đâu chỉ là giàn thiên lý, con đường làng, con chim hót đầu rào hay cây ổi cây chuối. Quê còn là chữ, là tiếng, là giọng, là mùi…

Tôi yêu tiếng nước tôi khi mới ra đời
Tôi càng yêu tiếng nước tôi hơn khi tôi đánh mất…nước tôi.
Người ra đi/bỏ đi đâu dễ bạc lòng.
Trải qua một “quá trình” bàn cãi chữ nghĩa: Văn học di dân, văn học ngoài nước/nước ngoài, văn học lưu vong, văn học nhập cư…, cuối cùng, văn học hải ngoại – một chóm chữ “ba phải” và “nhạt chất chính trị,” theo Nguyễn Mộng Giác (1) – trở thành từ vựng, được thường xuyên sử dụng trên báo chí trong cũng như ngoài nước, để chỉ nền văn học của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài sau biến cố 1975. Nó, theo Đặng Tiến, lần đầu tiên xuất hiện trên một cuốn sách do nhà xuất bản Sông Thu (Mỹ) phát hành năm 1985 với tựa đề “Truyện ngắn hải ngoại,” dần dần trở thành quen thuộc ở hải ngoại. Và cả ở báo chí trong nước: “Văn học hải ngoại 20 năm đầu thế kỷ 21” (Văn chương Việt), “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại” (VNExpress), “Văn học hải ngoại – một VN khác nhìn từ thế giới” (tạp chí Thái Nguyên), “Văn học hải ngoại cũng là máu thịt của dân tộc” (Tuổi Trẻ), “Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại” (Nguyễn Huệ Chi), “Đọc văn học Việt Nam hải ngoại” (Hoàng Ngọc Hiến), “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại” (sứ quán CHXHCNVN ở Hoa Kỳ đăng lại bài từ VNExpress), …Ngoài nước: “Nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại” (Nguyễn Vy Khanh), “Tuyển tập văn chương hải ngoại” (nxb Tân Thư)…Trang mạng Văn Việt (2014) do Văn Đoàn Độc Lập chủ trương, có chuyên đề đặc biệt về “Văn Học Hải Ngoại”, vân vân.
Nhà văn Nguyên Ngọc, người chủ xướng Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, viết:
“Chưa bao giờ trong lịch sử chúng ta lại có hơn hai triệu người ở nước ngoài như hiện nay. Tôi không thảo luận về nguyên nhân của thực tế này, chỉ nhấn mạnh rằng đó là một thực tế lịch sử sống động và to lớn. Những người Việt Nam ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được. Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay. Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết văn học Việt Nam hải ngoại. (…) Thiếu nó, thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt con người Việt trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã, và đang, trải qua. Văn học Việt Nam do vậy sẽ què quặt.” (2)
Hải ngoại là gì vậy?
Hải ngoại (海外 = outre-mer = overseas = bên ngoài biển) đơn giản chỉ có nghĩa là ở nước ngoài. Là ly hương (diaspora). Ly hương không là một hiện tượng đặc thù, từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước 1975, đối với người Việt: Đi du học, đi lính, đi làm ăn. Xa quê nhưng không có cảm giác mất quê. Xa, vẫn có thể trở về. Nhưng sau biến cố 1975, hải ngoại đột nhiên mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Trong một giai đoạn lịch sử cực đoan kéo dài gần hai thập niên, hải ngoại không chỉ là một không gian địa lý, mà là hy vọng, là cứu chuộc, là dung thân. Là gian nan trốn chạy, vượt thoát, từ bỏ, và…đánh mất. Là hành trình tử sinh, là gánh định mệnh, là kiếp khác. Đi cái đã. Chết, cũng đi. Để đến một nơi chẳng có gì ngoài những chữ “không:” Không chính phủ, không ngân sách, không công an, không trường ốc, không đất đai, không tiếng, không chữ và không…tương lai. Cũng đành. Vì không thể sống nổi dưới một chế độ mà mục tiêu lớn nhất sau chiến tranh là gây ra/gây thêm một cuộc chiến tranh khác. Là thực hành một lý thuyết, chứ không phải băng bó vết thương. Ngược lại, khoét sâu vết thương. Kẻ cầm quyền luôn luôn đặt toàn xã hội trong tình trạng báo động qua các biện pháp quyết liệt diễn ra thường trực: Cấm, đốt, dọa, bắt, phá, rình, giấu…Sau này, dù “ra đi có trật tự”, người ra đi vẫn mang tâm trạng của “thoát ra,” của “một đi không trở lại.” Hải ngoại, rốt cuộc, là hạnh phúc và nỗi đau. Một hạnh phúc đau đớn.
Chẳng thế mà:
Ôi trong ví những người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ
(Thơ Cao Tần)
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà
(Du Tử Lê)
Và vô số những người khác…
Ly hương, trong hoàn cảnh như thế, mọi người chỉ có một nhu cầu: Sống còn. Tất cả các thứ khác đều là chuyện ruồi bu, kể cả một thứ vừa vu vơ vừa viển vông vừa vớ vẩn là văn học.
Mà rồi không phải thế.
Hồn Việt Nam (Tháng Mười, 1975) – một trong những tờ báo đầu tiên ở hải ngoại – lúc đầu, chấp nhận vai trò của người thua cuộc. Trong bài mở đầu, người chủ trương, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, viết: “Trước những biến chuyển của đất nước, trước những vui buồn, những ngơ ngác, hân hoan của mỗi người, trước những đau khổ, nhục nhã của cuộc ly hành, chúng tôi có bổn phận phải làm gì để chia sẻ.” Mục đích của tờ báo chẳng có gì ngơài mong muốn “trở thành mối liên lạc giữa kẻ ở với người đi” và giữ gìn “văn hóa và dân tộc.”
Tóm lại, đã thua rồi thì chịu thua thôi, còn mưu cầu gì nữa.
Nhưng rồi, tin tức dồn dập trong nước dần dần lọt ra ngoài: Các trại tù cải tạo, chiến dịch đốt sách, đàn áp văn nghệ sĩ, phong trào đánh tư sản, bắt bớ tu sĩ…Cả miền Nam hoàn toàn bị đặt dưới gọng kềm sắt máu của kẻ chiến thắng. Lượng người vượt biên vượt biển mỗi ngày mỗi gia tăng. Tin dữ đã làm thay đổi hẳn lập trường ban đầu của tờ báo. Đến Tháng Mười, 1977, Hồn Việt Nam ra bộ mới, với một ban biên tập mới, ngoài Minh Đức Hoài Trinh, còn có Trần Tam Tiệp, Phạm Hữu, Vũ Phong. Tờ báo chuyển hướng sang đấu tranh chính trị. “Quê hương Việt Nam đang sống trong đau khổ, uất hẹn, tủi nhục, người Việt tha hương không thể thụ động khoanh tay, cúi đầu.” (Thư Tòa Soạn). Ngôn ngữ thay đổi: Trên báo xuất hiện những nhóm chữ “phục quốc, nội công, ngoại kích, mất nước.” Hồn Việt Nam “đã báo động và phản ánh những biến đổi tâm thức của người Việt hải ngoại: Từ ý hướng hòa hợp dân tộc, xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, chuyển sang thái độ trực diện, đối đầu.” (3)
Yếu tố chính trị, quả thật, đã là động cơ thúc đẩy sự ra đời của cộng đồng người Việt hải ngoại, mà sự hiện diện của nó tự dưng trở thành đối kháng với bộ máy cai trị chuyên chế ở trong nước.
Cùng với nó là văn học.
Cũng là lẽ đời, lẽ thường, lẽ tự nhiên.
Đỗ Quyên, nhà thơ, xuất thân ở Hà Nội: “Bản chất của một nền văn học ở ngoài lãnh địa quốc gia rõ ràng thay đổi theo thời gian, tức là qua mỗi thế hệ. Với Văn học Việt Hải ngoại, đúng là từ 1975 cho tới buổi hôm nay 2007, vấn đề Hải ngoại – Chính quốc đã và đang không hề chỉ là về mặt địa lý. Nói “thẳng tưng” ra, nó là chính trị. (…) Tương quan đối kháng Ta-Địch đã và đang còn làm nên “máu” của dòng chính nói trên.” (4) [đ.d.]
—
(1)-Nguyễn Mộng Giác, Nhìn lại một năm Văn chương hải ngoại (1995), https://vietpen.org/nhin-lai-mot-nam-van-chuong-hai-ngoai-nguyen-mong-giac/
(2)-Dã Tượng, Nguyên Ngọc: Văn học, nội lực, trong-ngoài, và…Vài tra vấn với nhà văn Nguyên Ngọc, https://vanviet.info/tu-lieu/nguyn-ngoc-van-hoc-noi-luc-trong-ngoi-v/
(3)-Thụy Khuê, Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000, http://thuykhue.free.fr/stt/v/tiepcan.html
(4)- Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải (Góp ý với hội thảo về văn học hải ngoại, Quận Cam, California, Tháng Giêng, 2007), https://damau.org/13975/chi-la-dot-thu-mat-ben-phai






















































































