Biển Ðông: Chuyện gì sẽ xảy ra?

 


Hoàng Hạc/Người Việt


 


Biển Ðông là một trong những vùng biển có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua vùng Trường Sa, và hiện tại, hơn phân nửa số tàu của thế giới chạy qua vùng biển này hằng năm.









Biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ở Hà Nội, ngày 8 Tháng Bảy, 2012. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Ðông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh đào Suez và gấp năm lần lượng tàu qua kênh đào Panama, gần 20% lượng dầu thô thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Ðông.


Thế kỷ XXI được xem là “thế kỷ của đại dương.” Các quốc gia có biển đều rất quan tâm đến biển, xem trọng việc xây dựng chiến lược biển.


Bờ biển Việt Nam dài 3,444km (theo thống kê cũ là 3,200km) từ Móng Cái-Quảng Ninh đến Hà Tiên-Kiên Giang, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, có trên 30 cảng biển, 112 cửa sông, 47 vũng, vịnh và khoảng 3,000 hòn đảo lớn, nhỏ; biển tiếp giáp với Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunay, Thái Lan, Campuchia.


Hiện tại, có thể nói tình hình Biển Ðông luôn là sự kiện nóng nhất trong khu vực và thế giới, nó mang lại cho người quan tâm câu hỏi: Có chiến tranh Biển Ðông hay không? Nếu có chiến tranh, điều gì sẽ xảy ra?


Cũng có thể nói rằng, trong lịch sử thế giới, khó tìm ra một khu vực nhạy cảm hội đủ ba yếu tố: Kinh tế; Chính trị; Văn hóa như Biển Ðông.


Về mặt kinh tế, chính tiềm năng dầu khí đồ sộ, sinh vật biển, diện tích mặt nước rộng lớn vốn là cửa ngõ giao thương của tàu bè trên thế giới với lượng tàu các nước đi qua đây, chiếm được Biển Ðông, cũng đồng nghĩa với chiếm lĩnh yết hầu kinh tế trên biển.


Ðiều này đã khiến các nước trong khu vực Ðông Nam Á, đặc biệt là Trung Quốc thèm muốn và tham vọng bành trướng.


Về chính trị, đây là khu vực duy nhất trên thế giới có sự xung đột nội tại giữa những nhà nước Cộng Sản còn sót lại trên thế giới và có sự xung đột giữa thế lực Tư Bản với thế lực Cộng Sản mà chung cục của sự xung đột này có yếu tố quyết định số phận của không dưới hai dân tộc trong khu vực.


Về mặt văn hóa, đương nhiên, khi lá cờ của Trung Quốc vượt nghìn hải lý tung bay trên Biển Ðông, điều đó cũng đồng nghĩa với ngọn gió văn hóa Trung Cộng đã chiếm chỗ trong khu vực Ðông Nam Á và chủ nghĩa Cộng Sản một lần nữa thách thức văn minh nhân loại.


 


Sự bành trướng của Trung Quốc


 


Sự bành trước, xung đột trên Biển Ðông giữa Trung Quốc cùng với sự “khẳng định chủ quyền” mang dấu hiệu lép vế, nhược tiểu của Việt Nam và Philippines đang càng lúc càng căng thẳng hơn, song hành với tình hình giá dầu mỗi lúc một tăng, tài nguyên mỗi lúc thêm cạn kiệt trên thế giới, nguy cơ chiến tranh rất có thể xảy ra.


Xét về mặt tổng thể, việc xảy ra một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc với một nước nào đó không ngoại trừ Việt Nam hoặc giữa Việt Nam với một nước nào đó, ngoại trừ Trung Quốc là rất có thể.


Vì sao? Vì có rất nhiều thứ quyền lợi và sự tồn vong chính trị khiến cho Việt Nam khó có thể xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, cho dù, Trung Quốc có thể gây hấn, xâm chiếm đến đỉnh điểm vẫn khó tin rằng Việt Nam (với thể chế chính trị hiện tại) có thể phát động cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trung Quốc đúng nghĩa.


Vì, xét về mặt quốc tế, Biển Ðông, với siêu cường quốc Hoa Kỳ vẫn chỉ đóng vai trò, giá trị quyền lợi kinh tế là trên hết, điều này khiến cho việc Trường Sa rơi vào tay Trung Quốc hay Việt Nam đều hữu dụng đồi với họ, và vấn đề Trung Quốc thắng hay Việt Nam thắng trong chiến tranh Biển Ðông đều không làm cho nước Mỹ tổn thất.


Với Philippines, vốn là đối tác thân thiết của Mỹ trong nhiều thập kỷ, việc cung cấp kỹ thuật, cung ứng vũ khí và hỗ trợ quân sự cho Philippines khi có chiến tranh Biển Ðông là chuyện hoàn toàn có thể của Mỹ, vì, ngoài ý nghĩa quyền lợi kinh tế, đây còn là một đòn chính trị đánh vỗ mặt chủ nghĩa Cộng Sản, có tính khẳng định sức mạnh siêu cường quốc và phe trục.


Trong khi đó, nhà nước Việt Nam hiện tại, vốn là nhà nước Cộng Sản anh em với Trung Quốc, mang nhiều món nợ trước 30 Tháng Tư 1975 với “người anh em” này nên mọi sự trở nên mắc mứu.


Sự mắc mứu đầu tiên mà họ vấp phải khi xảy ra chiến tranh sẽ là mất đi một ông anh đỡ đầu về mặt chủ nghĩa, kinh tế, thế lực phe trục mà vĩnh viễn không có nước nào có thể thay thế.


Hơn nữa, tình hình kêu gọi nhân quyền mỗi lúc thêm liên kết thành cao trào trong lòng dân tộc Việt Nam, mà nhà nước Việt Nam cố gắng duy trì chế độ độc tài của mình, không cách nào khác phải trấn áp mọi hoạt động có liên quan đến khái niệm này.


Trong hoàn cảnh này, “ông anh cả” Cộng Sản Trung Quốc là chỗ dựa, là tường rào vững chắc nhất.


Nếu nhà nước CS Việt Nam phát động một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trung Quốc trên Biển Ðông, cái được sẽ là quyền lợi toàn dân tộc, nhưng cái mất sẽ là ông anh bảo kê Trung Quốc, và khi mất ông anh bảo kê to con này, cũng đồng nghĩa với sự tụt dốc về quyền lực trong nội bộ quốc gia, thậm chí có thể dẫn đến thay đổi thể chế chính trị.


Với Mỹ, việc bán vũ khí sát thương, thậm chí vũ khí hạng nặng cho Việt Nam có “hàng” chơi lại Trung Quốc để đổi lấy một số quyền lợi trên Biển Ðông (đặc biệt là quyền lợi được trao từ một quốc gia có bờ biển dài 3,444km, mà xét theo UNCLOS thì phần lớn Biển Ðông và tài nguyên trên đó sẽ thuộc về Việt Nam) là chuyện không phải không thực hiện được.


Nhưng, với Nghị Viện Mỹ, vấn đề bán hay không bán, bán như thế nào cho Việt Nam những thứ “đồ chơi” này lại phụ thuộc vào tình hình nhân quyền, tự do và tiến bộ của nó. Chính vì vậy mà việc này khó diễn ra trọn vẹn, trừ khi có sự thay đổi theo yêu cầu của Mỹ.


Chính cái thế “kẹt bi” này khiến cho nhà nước CSVN luôn tỏ ra do dự, thua thế và hèn kém, nhún nhường trước sự xâm lấn trắng trợn của Trung Quốc. Kể từ vụ giết tróc của quân đội Trung Quốc trên bãi đá Gạc Ma năm 1988, cho đến vụ cắt cáp tàu Bình Minh, tàu Viking 2, bắt bớ ngư dân Việt…


Tuy đã mất rất nhiều nhưng chính quyền Việt Nam cũng chỉ nói và nói, không có hành động nào vượt qua sự khiếp nhược.


Gần đây, sau chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ, Tướng Nguyễn Chí Vịnh sang “công tác” tại Mỹ, đương nhiên, dù không nói ra, nhưng chuyến đi này chắc chắn sẽ có đề cập đến vấn đề gỡ bỏ cấm vận mua bán vũ khí cho Việt Nam, và vấn đề nhân quyền cho Việt Nam cũng sẽ được phía Mỹ đề cập.


 


Tiến bộ hay diệt vong?


 


Giả sử, nhà nước CSVN quyết định chọn Mỹ làm đối tác trong vấn đề Biển Ðông thì chuyện gì xảy ra?


Ðó là nới rộng nhân quyền, manh nha một thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng trong tương lai không xa. Vũ khí hạng nặng sẽ được phía Mỹ cung cấp, tương quan khí tài trên Biển Ðông giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ cân bằng hơn. Cơ hội ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc sẽ cao hơn và vấn đề bị ép chế trong đàm phán sẽ giảm bớt.


Biển Ðông sẽ ổn định hơn và, chắc chắn, dù gì thì Mỹ cũng muốn hợp tác với một Việt Nam dân chủ, tiến bộ hơn so với Việt Nam hiện tại.


Trường hợp ngược lại, nếu nhà nước CSVN muốn đảm bảo chiếc ghế độc tài của mình được lâu bền, bắt buộc phải “đi đêm” với anh cả Trung Quốc, phải ngấm ngầm mặc cả, chịu thiệt về vấn đề Biển Ðông, thì quyền lợi dân tộc bị bỏ qua, quyền lợi đảng phái được đặt lên hàng đầu.


Trong trường hợp này, Việt Nam mất dần các đảo trên Biển Ðông là chuyện khả thể.


Và, chuyện ngồi vào bàn đàm phán giữa nhà nước CS Việt Nam với nhà nước Cộng sản Trung Quốc là một trò diễn kịch, mua bán có kịch bản, chẳng có ý nghĩa gì ngoài sự cam chịu thất bại.


Bị thiệt thòi nhiều nhất trong vấn đề này là toàn dân tộc Việt Nam, và trực tiếp thiệt thòi chính là ngư dân. Họ sẽ không được đánh bắt xa bờ, sẽ bị bắt bớ, ép chế, sự nghiệp họ suy sụp, phá sản.


Trong trạng huống này, chiến tranh có thể xảy ra mạnh hơn, không phải chiến tranh trên biển mà sẽ là chiến tranh trên đất liền. Ðó là logic của máu xâm lăng, bành trướng Trung Quốc.


Suy cho cùng, chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc khó có thể xảy ra mà cũng rất dễ xảy ra. Vấn đề này hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn, hợp tác của nhà nước CSVN.


Nếu nhà nước CSVN chấp nhận tinh giảm, mở rộng quyền lực, cộng hưởng với thế giới tiến bộ, nâng cao dân trí, dân sinh và nhân quyền, hợp tác với Mỹ và những nước Tư Bản để kiến tạo cho mình một tương quan sức mạnh khí tài đủ để Trung Quốc phải suy nghĩ lại mà ngồi vào bàn đàm phán, thì lúc này, quyền lợi dân tộc đã được họ đặt lên trên hết.


Chiến tranh Biển Ðông giữa Việt Nam và các nước liên quan sẽ khó xảy ra.


Nếu như họ vẫn khư khư ôm thứ quyền lợi nhỏ mọn của phe nhóm, đảng phái, thì chuyện bán đứng quốc gia, dân tộc cũng chẳng cứu được cái ghế quyền lực và thể chế chính trị vốn đã lạc hậu của họ.


Và chuyện chiến tranh là chuyện thấy được trước mắt, lúc này, không phải chiến tranh Biển Ðông mà là chiến tranh Trung Quốc bành trướng lãnh thổ Việt Nam, nguy cơ diệt vong của dân tộc là có thể.


Có một điều tế nhị, suốt hơn 70 năm tồn tại trên miền Bắc và hơn 35 năm tồn tại trên miền Nam, sự xói mòn về đạo đức, sự ruỗng mục về quản lý dẫn đến quốc nạn tham nhũng, uy tín hao mòn của đảng Cộng Sản.


Nếu bây giờ, không có động thái đi đến đa nguyên, đa đảng, giả sử có chiến tranh xảy ra, sẽ không có mấy người bỏ máu xương ra để chống thù, vì họ thất vọng, họ không đủ dại dột để hy sinh xương máu rồi cuối cùng, đảng lại đớp miếng mồi ngon, ngồi mát ăn bát vàng. Nhân dân không được gì cả.


Ngược lại, trong thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, mọi quyền lợi được giám sát và chia chác có khoa học, cả dân tộc được hưởng lợi, thì cả dân tộc cũng sẽ đứng lên chống ngoại xâm. Ðó là một hiển nhiên!

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT