Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng đông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại (714) 531-8229 hoặc email danghao@sbcglobal. net.
Chắc quí độc giả cũng đồng ý với tôi, YKÐP đã có hơn bốn ngàn năm tại Á Châu. Không những YKÐP còn tồn tại tới ngày nay, mà còn đang trên đà phát triển như các ngành nghiên cứu khoa học khác tại Hoa Kỳ và thế giới.
Ðiều này đương nhiên chúng ta không cần phải tranh luận, mặc dầu, dưới những cái nhìn khác nhau, phê bình hay cổ võ đều là những chất liệu giúp cho vấn đề càng ngày càng sáng tỏ hơn, để giúp người thày thuốc phải tìm hiểu, học hỏi và áp dụng vào sự trị liệu càng ngày càng hoàn hảo hơn, có vậy mới được coi là tiến bộ và xứng đáng trong sự phục vụ sức khỏe con người.
Kỳ này, chúng ta cùng tìm hiểu về Luận Lý trong YKÐP, để nhận định rõ hơn và chính xác hơn về một nền y khoa đã đóng góp vào việc bảo vệ sức khỏe con người nhiều ngàn năm qua.
Luận lý trong Y Khoa Ðông Phương là gì?
Là cốt tủy của một nền y học, cái làm cho giá trị của nó trở nên độc đáo và trường tồn theo thời gian, đồng hành với bản thể của vũ trụ, chính là phương pháp luân, là y lý của nó.
Nếu có nhiều con đường đi tới La Mã, thì cũng có nhiều con đường đi tới mục đích chung của y học. Nói khác đi, có nhiều cách nhìn, nhiều cách vận dụng và suy diễn, nhiều phương pháp chẩn đoán và trị liệu khác nhau… YKÐP cũng có những phương pháp đặc biệt của nó.
Nhiệm vụ của khoa học trong mỗi y khoa là qua thực tiễn nghiên cứu của mình, mà tìm ra được những qui luật và vận dụng được những qui luật đó để cải tiến hiện thực.
Nếu không có qui luật thì chúng ta mới chỉ có những kinh nghiệm rải rác về các sự kiện, mà chưa mang tính chất khoa học và chỉ khi nào có qui luật, nền y khoa mới có tính chất khoa học mà thôi.
Luận lý của YKÐP đã đặt trên nền tảng âm dương (đạo), tứ tượng, bát quái, ngũ hành: Kim-mộc-thủy-hỏa-thổ, và qua thực tiễn nghiên cứu và ứng dụng nó mà đã tìm ra được những qui luật, để cải tiến hiện thực. Do đó nó là một khoa học, là y lý, là tinh hoa nhất, là cốt lõi, là vĩnh cửu, là trường tồn với thời gian, nhưng lại vô cùng biến hóa tùy theo thời gian và không gian để ưng dụng vào từng hoàn cảnh, từng cá nhân khi chữa trị.
Ðã có nhiều người chỉ chú ý vận dụng các phương tiện của YKÐP, những kinh nghiệm trong lâm sàng, nhưng không mấy lưu tâm, thậm chí coi thường y lý, quyết định những thành công đó, như vậy là chưa thấy được những khía cạnh khoa học trong y khoa đông phương, chưa thấy cái quí báu nhất của YKÐP là phương pháp luận, là y lý của người xưa, cái mà nẩy sinh ra biết bao nhiêu thành quả của YKÐP.
Phương pháp luận của y học gồm những phương pháp nhận thức chung, những qui luật chung của triết học, vừa bao gồm những phương pháp khoa học riêng với những qui luật và đặc thù của liên ngành khoa học và những qui luật riêng của y khoa.
Y lý của YKÐP có những qui luật gì?
Y Lý của YKÐP dựa vào khí hóa, âm dương, ngũ hành, tạng tượng, kinh mạch, thiên nhân tương hợp… vẽ ra được bức tranh của vũ trụ và con người, trong đó nêu ra được trạng thái biến dịch, chuyển đổi những qui luật theo tiến trình tự nhiên.
Luận lý theo học thuyết khí hóa.
Khí hóa là gì? Theo quá trình trao đổi từ dương đến âm gọi là biến và từ âm đến dương gọi là hóa.
Tóm lại, Ðông hay Tây, dùng thuốc hay không dùng thuốc như châm cứu… cũng phải tạo ra một năng lực (khí) để biến đổi (hóa) cơ thể từ bất thường tới thường hay từ bệnh tới lành…
Theo Ðông Y Sĩ Vô Thường: “Ðông y truyền thống rất chú trọng cơ sở khí hóa nơi con người gọi là Nhân thân khí hóa. Cơ sở này là màng lưới kinh lạc toàn thân, đã được Nội Kinh gọi là Tấu, gồm tất cả kinh lạc nơi con người (12 kinh và 8 mạch), màng lưỡi này trải suốt Biểu, suốt Lý và nối kết giúp cho Biểu Lý tương giao không rời…
Ðông Y hiện tại chỉ luận âm dương, nên trình bày hai bộ vị đối lập là Biểu Lý, còn thuận đạo âm dương thống nhất là cơ cấu biến hóa của âm dương, nơi thân người, là tại bộ vị Tấu, thì bỏ sót. Từ xưa đến nay Ðông Phương có học tuyết tam tài (Thiên-Nhân-Ðịa), thân người cũng có ba phần Tinh-Khí-Thần (Thần thuộc trời, Khí thuộc người, Tinh thuộc đất); Khí do Thần ngự gọi là hồn, khí do Tinh hóa gọi là Phách, toàn thể khí lực con người gọi là Vía. Năng lực sinh hoạt nơi con người tóm tắt gọi là khí hóa, cơ sở của mạng lưới này gọi là kinh khí (quan hệ với trời) và cũng được gọi là kinh lạc (quan hệ với đất), do đó kinh lạc của con người cũng có ba thành phần là Khí-Kinh-Lạc (Khí là vật thuộc trời, Kinh là đường nơi thân, Lạc là chất thuộc đất).
Người trước thường nói: “Học y mà không biết kinh lạc như người đi trong đêm tối không có đèn đuốc, trăng sao.” Tiếp lời đó, cụ Việt Nhân Lưu Thủy đã cổ xúy “Học y thì trước hết phải học kinh lạc” và dẫn chứng điều này bằng hai sách Thương Hàn Luận. Vai trò quan trọng khí hóa trong kinh lạc không thể kể hết bằng đôi dòng ngắn ngủi này.
Luận lý theo học thuyết âm dương
Mỗi hiện tượng xẩy ra luôn trong trạng thái đối nghịch nhau như:động tĩnh, sáng tối, nóng, lạnh… đó là bản thân sự vật và hiện tượng luôn luôn có hai: chất và đối chất, có hai: vận động và phản động mà đông y gọi là âm dương. Âm dương tương phản, tương thành. Khi dương thắng âm thì sinh ra hiện tượng dương, khi âm thắng dương thì sinh ra hiện tượng âm.
Nhờ học thuyết âm dương mà chúng ta biết được hai nguyên nhân của cùng một hiện tượng. Do đó có những cách giải quyết khác nhau, tùy theo sự kinh nghiệm mà áp dụng khác nhau.
Khi định một bệnh nào đó chúng ta phải triệt để khai triển sự phát hiện những cặp mâu thuẫn âm dương.
Ðiều thú vị là ngày nay trong y học như tác dụng hưng phấn và ức chế trong sinh học, kháng thể trong miễn dịch học… càng ngày càng xác minh giá trị của học thuyết âm dương trong YKÐP.
Không phải người ta chứng minh được tất cả, nhưng càng ngày càng có nhiều khám phá làm sáng tỏ luận lý trong Ðông Y.
Thí dụ: sự co bóp của tim.
-Nhịp tim gia tăng do giao cảm mạnh hơn bình thường, làm hưng phấn nhịp tim lên, hay đối giao cảm suy yếu không ức chế được nhịp tim.
Nếu định bệnh nguyên nhân do giao cảm mạnh gây ra, thì thày thuốc cần phải tả để giao cảm trở lại bình thường, thì nhịp tim trở lại bình thường.
Nhịp tim giảm xuống hoặc do giao cảm suy yếu, hoặc do đối giao cảm gia tăng.
Nếu nguyên nhân do giao cảm suy yếu thì chúng ta phải bổ cho giao cảm trở lại bình thường, thì nhịp tim cũng gia tăng trở lại.
Người thầy thuốc phải tùy từng nguyên nhân khác nhau mà giải quyết cho bệnh nhân. Bệnh mới không có cơ hội tái phát trở lại.
Lý luận theo học thuyết ngũ hành
Khi xét toàn bộ nhân quả của mọi hiện tượng, của mọi vật.
Nói theo tuyết âm dương và ngũ hành. Khí đứng trước một sự kiện (x) thì phải có cái sinh ra x, cái khắc x, cái x sinh ra và cái x khắc. Như vậy toàn bộ nhân quả của một sự vật(x) bao gồm 5 vận động phổ biến mà người xưa đặt là ngũ hành: mộc-hỏa-thổ-kim-thủy.
Khi xét từng hiện tượng chúng ta vận dụng âm dương đối lập. Thí dụ như:ngày và đêm, nước và lửa, ức chế và hưng phấn, v.v… Nhưng khi xét đến toàn bộ hiện tượng sự vật, thì chúng cần vận dụng ngũ hành, tức sự thông nhất và đấu tranh giữa 5 cặp đối lập.
Ðể vấn đề dược hiểu một cách dễ dàng hơn… Tôi xin đưa ra một thí dụ cụ thể: Có 10 thực phẩm, đưa ra cho nhiều người dùng khả năng nấu nướng của mình để biến chế thành những món ăn. Món ăn ngon hay dở là do người nấu. Vì chỉ có từng ấy thực phẩm, do sự gia giảm tinh vi mà đưa tới kết quả ngon hay dở.
Người thầy thuốc phải hiểu tường tận: âm-dương, ngũ hành… phối hợp với khả năng hiểu biết của mình để tìm hiểu sự kích động và phản động, sự phối hợp của nhiều hiện tượng phức tạp, vận dụng 5 cơ năng phổ biến gọi là ngũ hành và âm dương để định bệnh như: âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, bệnh từ đâu phát ra, từ ngọn (tiêu) hay từ gốc (bản). Rồi từ đó điều chỉnh cho quân bình cũng không ngoài ý lý kể trên.
(còn tiếp)





















































































