Luận lý trong Y Khoa Ðông Phương

 


Bác Sĩ Ðặng Trần Hào


 


LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại (714) 531-8229 hoặc email [email protected].


 


Theo Trang Tử, chính vì thấy trong tâm mình có đạo, có trời, có bản thể bất sinh, bất tử, nên đã nói trong trong Thiên Tề Vật Luận, Nam Hoa Kinh:


Ta và Trời là một,


Ta và muôn vật sự tình chẳng sai


Âm Phù kinh viết:


Thiên tính nhân dã,


Nhân tâm cơ dã,


Lập thiên chi đạo,


Dĩ định nhân dã,


Dịch:


Thiên tính là người,


Nhân tâm là máy,


Lập ra thiên đạo,


Ðịnh mực phiêu người,


Sở dĩ chúng ta tìm hiểu về vũ trụ và con người qua đạo và thuyết tam tài để thấy rằng tiểu vũ trụ và đại vũ trụ là một. Sự biến chuyển từ ngày qua đêm, từ sáng qua tối, dĩ nhiên cơ thể chúng ta cũng biến đổi theo. Ban ngày, chúng ta hoạt động, làm việc, về đêm, chúng ta nghỉ ngơi theo với sự biến chuyển của vũ trụ…


Chúng ta đã biết vạn vật đồng nhất thể, cho nên lục khí:


– Phong (gió) – Hàn (lạnh) – Nhiệt (nóng) – Thấp (ẩm) – Táo (ráo) – Hỏa (lửa), là sáu khí bình thường trong vũ trụ, cũng như trong thân người cần thiết điều hòa sinh bình.


Còn lục dâm:


– Phong (gió) – Hàn (lạnh) – Thử (nắng) – Thấp (ẩm) – Táo (ráo) – Hỏa (lửa), là sáu khí bất thường làm ra bệnh hoạn.


Ðông y truyền thống có nhận thức bệnh lý không đơn thuần do lục dâm ở bên ngoài tác động, mà chủ yếu là do lục dâm bên trong tạo ra, gắn liền với quan niệm Lục Kinh điều hành lục khí, khí làm bệnh và kinh thọ bệnh.


Trở lại với thuyết ngũ hành trong vũ trụ, áp dụng: kim-mộc-thủy-hỏa-thổ, khi lục dâm là sáu khí bất thường tạo ra bệnh.


 


Sản phụ sau khi sanh bị mất ngủ là tại sao?


Người sản phụ sau khi sanh khí huyết bị hao hụt, sinh ra chóng mặt, mất ngủ, ngủ chập chờn không ngon giấc do mất nhiều huyết trong khi sanh.


Luân lý theo YKÐP, huyết thuộc âm, khí huyết suy hay còn gọi là thiếu máu, ảnh hưởng tới tim, gan và thận. Vì âm suy, và đêm thuộc về âm nên lại suy thêm, ảnh hưởng trên ngũ hành. Thận âm suy (thận thuộc hành thủy) tương khắc với tim (hành hỏa), vì hành thủy suy , nên hành hỏa vượng. Hảo vượng, có nghĩa là tim nóng hơn, tạo ra nhịp tim nhanh hơn, gây ra hồi hộp mất ngủ.


Ðối Y khoa Tây y đã tìm ra thần kinh giao cảm làm co động mạch vành tim và đối giao cảm làm giãn động mạch vành tim.


Khi tim đập nhanh theo y khoa hiện đại:


Giao cảm gia tăng (dương) hay đối giao cảm giảm (âm), có nghĩa là tâm khi gia tăng (dương) hay tâm huyết suy (âm) làm tim hồi hộp, đập nhanh hơn, gây ra mất ngủ.


Trong trường hợp trên YKÐP qui về huyết suy (tức âm) nghĩa là đối giao cảm suy mà gây ra tim đập nhanh hơn mà mất ngủ.


Tuy sự suy luận khác nhau nhưng chung quy cũng là làm sao cho âm dương, hay giao cảm và đối giao cảm quân bình là hết bệnh.


 


Sản phụ sau khi sanh bị lạnh tứ chi là tại sao?


Thường sau khi sanh không nhiều thì ít sản phụ bị tổn khí (thuộc dương), có nghĩ là thận khí bi suy yếu, làm tứ chi lạnh, mỏi mệt, đau nhức tứ chi và phần lưng dưới, chân yếu, không có lực, có thể gây ra ăn uống không tiêu hóa khi ảnh hưởng tới tỳ khí.


Ngày nay y khoa đã tìm ra chất adrenaline, và nor adrenaline của tủy thượng thận, có vai trò sản nhiệt trong thận và giúp cho cơ thể ấm áp và giữ cho thân nhiệt là do quân bình của adrenaline và nor adrenaline, hay nói khác đi là quân bình âm dương, khí huyết trong thận mà YKÐP đã áp dụng để định bệnh và tiên đoán phải có chất nào đó ở tạng thận sinh ra nhiệt, ảnh hưởng tới kinh mạch và đặt tên cho là thận hỏa.


Ngoài ra YHÐP còn tiên đoán phải có chất nào đó ở thận giữ nước lại để kềm chế nhiệt đang đốt nóng cơ thể, mà được đặt tên là thận thủy. Ðến bây giờ chúng ta biết là Gluco-corticoides của vỏ thượng thận.


Nhờ những sự khám phá này làm cho vấn đề được sáng tỏ hơn.


 


Ngoài học thuyết âm dương, ngũ hành đông y còn phải làm gì trên con đường tiến hóa chung của nhân loại?


Ðông Y có những nét độc đáo chẳng những về dược liệu và kinh huyệt mà còn về lý pháp có truyền thống đạo học, khí hóa.


“Nhất âm, nhất dương là đạo”


“Âm dương là đạo của trời đất, là rường mối của vạn vật, là cha mẹ của sự tiến hóa, là căn bản của mọi sinh sát, là nơi chứa của mọi thần linh.”


Tuy nhiên đem áp dụng âm dương vào Ðông y cần phải hiểu nhất âm, nhất dương không có hữu dụng trong khi ứng dụng vào con người. Chúng ta thử nghĩ, nếu đàn bà là nhất âm, đàn ông là nhất dương. Nếu không có sự giao tình thì không có sự sinh sản. Cho nên Ðông y phù hợp với thuyết tam tài con người phải có: Xác-Hồn-Thần. Ðông Y áp dụng: Âm-Dương-Khí hóa. Khi dương chuyển sang âm là Khí, và âm chuyển sang dương là Hóa. Như vậy khí hóa (trong lục khí) là thần trong con người, là phần huyền linh, khôn lường.


Trong xu hướng toàn cầu hóa vấn đề kết hợp Ðông Tây y là tất yếu, nhưng với tính chất hạn chế hiện nay của Ðông y với quan niệm “Âm Dương Ngũ Hành” đã vô tình đánh mất đạo học khí hóa của nó, làm cho Y Khoa Ðông Phương này không còn tương xứng trong nhu cầu kết hợp để xây dựng một nền Y Khoa Ðông Phương khoa học và đại chúng. Muốn vậy Ðông y phải khẳng định là khoa học tự nhiên phủ hợp với Tam Tài, nhân thân khí hóa, không hề mâu thuẫn với khoa học thực nghiệm vì cả hai cùng có một đối tượng để phục vụ;


Tây y chú trọng tới thần kinh và nội tạng, đến vi trùng và khuẩn độc…


Ðông y quan tâm đến kinh lạc và tạng phủ, đến môi trường sinh hoạt của chúng là: Khí, Hóa…


Cốt lõi của YKÐP là Ðạo học-Khí hóa. Ðạo học chẳng những luận âm dương đối lập, mà còn luận âm dương thống nhất của sự vật biến hóa theo hai nghĩa: Dụng mà tồn tại trong một Ðạo-Thể; Khí Hóa là mô tả mọi sinh hoạt của sự vật bằng một sức gọi là khí, lý này đã có ở nội kinh với luận chức năng của phủ bàng quang có câu “khí hóa xuất yên” với ý nói máu từ tâm tới thận để lọc cặn bã thành nước tiểu, rồi xuống bọng đái mà tiết ra ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT