Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 16
Kể từ ngày ấy trở đi, mụ bắt đầu xuống dốc, mụ chết dần chết mòn và hai tháng sau, mụ chờ chết. Trong lúc hấp hối, mụ nhận thấy tôi. Mụ thở như một con rùa và mụ giơ bàn tay héo hắt túm lấy tôi: “Chính mày đã giết tao, Alexis, chính mày đã giết tao, quân độc ác. Tao nguyền rủa mày, cầu trời cho mày phải đau đớn như tao đã từng cam chịu đau đớn!”
Zorba mỉm cười.
– A! Lời nguyền rủa của mụ già không làm tôi hề hấn gì, hắn vừa nói vừa vuốt bộ ria mép. Hình như năm nay tôi sáu mươi lăm tuổi rồi, nhưng dù tôi có sống đến một trăm tuổi đi chăng nữa tôi cũng không bao giờ trở nên khôn ngoan cả. Tôi sẽ vẫn giữ mảnh gương con trong túi và tôi vẫn chạy đuổi theo giống cái như thường.
Hắn lại mỉm cười, ném điếu thuốc lá qua cửa thông ánh sáng trên mái nhà, vươn vai nói:
– Tôi còn có biết bao tật xấu khác nữa, nhưng tật xấu kia sẽ giết tôi.
Hắn nhẩy phóc xuống khỏi giường.
– Thế đủ rồi, nói hơi nhiều. Hôm nay ta làm việc!
Hắn mặc quần áo chớp nhoáng, mang giày và đi ra.
Tôi gục đầu xuống nghiền ngẫm những lời nói của Zorba và đột nhiên tôi nhớ đến thành phố xa xôi đầy tuyết phủ.
Trong một phòng triển lãm tác phẩm của Rodin, tôi ngừng lại ngắm một bàn tay khổng lồ bằng đồng, Bàn Tay của Thượng Ðế. Lòng bàn tay nắm lại nửa chừng và trong lòng bàn tay ấy, một người đàn ông và một người đàn bà đang ngây ngất quấn quít vào nhau, phấn đấu để hòa hợp với nhau.
Một thiếu nữ đến gần và dừng lại bên cạnh tôi. Nàng cũng xúc động khi ngắm nhìn vòng tay ôm ghì vĩnh cửu đầy lo âu của người đàn ông và người đàn bà. Nàng dáng thanh thanh, ăn mặc lịch sự, với mái tóc dầy vàng hoe, một cái cằm bướng bỉnh và đôi môi mỏng. Nàng có vẻ quả quyết và đàn ông. Thường thường tôi rất ghét gợi chuyện dễ dãi nhưng lần này tôi không hiểu điều gì đã thúc dụ tôi quay sang hỏi:
– Cô nghĩ gì?
– Nếu người ta có thể trốn thoát! Nàng thì thầm một cách giận dỗi.
– Ðể đi đâu? Bàn tay Thượng Ðế ở khắp nơi. Không có sự cứu chuộc. Cô tiếc sao?
– Không. Có thể tình yêu là niềm hoan lạc mãnh liệt nhất trên thế gian này. Ðiều ấy rất có thể. Nhưng bây giờ khi nhìn thấy bàn tay bằng đồng kia, tôi muốn tìm cách thoát thân.
– Cô thích tự do hơn?
– Dạ.
– Nhưng nếu chỉ khi nào người ta vâng lời theo bàn tay đồng kia thì người ta mới được tự do? Nếu danh từ “Thượng Ðế” không có nghĩa tiện lợi như đám đông gán cho nó?
Nàng nhìn tôi lo âu. Mắt nàng có một mầu xám chì, môi nàng khô và cay đắng.
– Tôi không hiểu, nàng nói, rồi nàng lảng ra xa như hoảng sợ.
Nàng biến mất. Từ đó, tôi không bao giờ nghĩ ngợi tới nàng. Tuy nhiên, chắc chắn nàng vẫn sống trong đáy lòng tôi – và hôm nay, trên bờ biển hoang vắng này, nàng tự phần sâu thẳm của con người tôi bước ra, xanh xao và ai oán.
Vâng, tôi đã xử sự tệ quá. Zorba có lý. Bàn tay đồng ấy là một cớ chính đáng. Sự va chạm đầu tiên đã thành tựu, những lời nói dịu dàng đã được đổi trao, và dần dần chúng ta có thể, không ai lưu tâm đến ai, siết chặt lấy nhau và cùng nhau lẳng lặng hòa hợp trong lòng bàn tay Thượng Ðế. Nhưng tôi, tôi lại bất thần nhẩy vọt từ dưới đất lên trời khiến người đàn bà hoảng kinh chạy trốn.
Con gà trống già đứng gáy trước sân nhà mụ Hortense. Ánh sáng ban mai trắng xóa giờ đây lùa qua khung cửa nhỏ. Tôi đứng phắt dậy.
Bọn thợ bắt đầu đến với cuốc, đòn bẩy, cuốc chim của họ. Tôi nghe Zorba ra lệnh. Hắn lăn xả ngay vào công việc; người ta nhận thấy nơi hắn một người biết điều khiển và thích nhận lãnh trách nhiệm.
Tôi thò đầu ra cửa sổ và nhìn thấy hắn đứng đấy như một tên khổng lồ nặng nề giữa đám khoảng độ ba mươi người gầy gò, thô kệch, mưa nắng dãi dầu và thân hình mảnh dẻ. Tay dang ra đầy quyền uy, hắn nói một cách vắn tắt và minh bạch. Ðột nhiên, hắn thộp ót một gã thiếu niên đang nói lầm bầm và ngập ngừng bước tới.
– Mi có điều gì muốn nói? Hắn quát. Hãy nói to lên! Tao không ưa nói lí nhí. Muốn làm việc phải vui vẻ. Bằng không cút đi nhậu cho rồi!
Lúc đó mụ Hortense hiện ra, đầu bù tóc rối, má phị, phấn không thoa. Mụ mặc một áo chemise bẩn và đôi giầy hàm ếch mòn gót. Mụ ho, tiếng ho khàn khàn của những ả ca kỹ già, giống tiếng lừa kêu. Mụ dừng lại và nhìn Zorba một cách kiêu hãnh. Mắt mụ mơ màng. Mụ lại dặng hắng cốt để hắn ta nghe thấy; rồi mụ vừa bước lại gần hắn vừa nhún nhẩy đôi mông. Chỉ còn cách một kẽ tóc nữa thôi là tay áo rộng của mụ chạm vào hắn ta. Nhưng dù thế hắn cũng vẫn không quay lại nhìn mụ. Hắn lấy của một người thợ một mẩu bánh bột lúa mạch và một nắm ô-liu và kêu to:
-Nào, các bạn hãy làm dấu thánh giá đi nào!









































































































