Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 17
Và hắn xài bước dẫn toán thợ sắp hàng ngay ngắn hướng về phía núi!
Ở đây tôi sẽ không mô tả những công việc ở hầm mỏ. Muốn làm việc đó cần phải kiên nhẫn mà tôi thì không có cái đức tính ấy. Với lau sậy, sợi mây và mấy bi-đông xăng, chúng tôi cất được một cái chòi cạnh biển. Hừng đông, Zorba đã chồm dậy, chụp lấy cuốc rồi đi ra mỏ trước bọn thợ. Hắn đào một đường hầm, rồi bỏ đó, gặp một mạch than non lóng lánh như than đá và nhẩy cẫng lên vì sung sướng. Nhưng vài ngày sau, mạch mỏ mất tăm và Zorba nằm dài trên đất, chổng cả bốn vó lên trời mà chế nhạo ông trời.
Hắn để hết tâm trí vào công việc. Hắn không hỏi ý kiến tôi nữa. Ngay từ những ngày đầu, tất cả mọi phiền phức và trách nhiệm đều được chuyền từ tay tôi qua hắn. Hắn có bổn phận quyết định và thi hành. Còn tôi thì bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên sự phân công này không làm tôi phật ý chút nào. Vì tôi cảm thấy rõ ràng là những tháng ngày này sẽ là những tháng ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi. Thế nên, sau khi tính toán cân nhắc đủ điều, tôi ý thức rằng tôi đang mua được hạnh phúc với một giá hời.
Ông ngoại tôi, sống trong một thôn nhỏ ở Crete; mỗi buổi chiều xách đèn lồng và đi một vòng quanh làng để xem may ra có một người ngoại quốc nào đến không. Ông rước người khách về nhà, mời người ta ăn uống no say, rồi sau đó, ông ngồi xuống bộ ván, đốt cái ống điếu Thổ Nhĩ Kỳ dài, quay mặt về phía người khách lạ – đã đến lúc phải trả nợ – bằng một giọng kẻ cả:
– Kể đi!
– Kể gì, cố Mustoyorgi?
– Ông là gì, ông là ai? Ông từ đâu đến, ông đã được thấy những thành phố và làng mạc nào, tất cả, hãy kể lại tất cả. Kìa, nói đi chứ!
Và người khách bắt đầu kể lăng nhăng, bịa đặt lẫn với sự thật, trong khi đó ông tôi phì phà ống điếu, lặng lẽ ngồi trên phản, lắng tai nghe và du lịch với hắn. Và nếu người khách làm ông thích chí, ông bảo hắn:
– Ngày mai, ông cũng sẽ ở lại đây. Ông chưa đi được. Ông còn nhiều chuyện để kể lắm.
“Ông tôi không bao giờ ra khỏi làng. Ông cũng chưa đi đến Canada hay Canea nữa. “Ðến đó để làm gì chứ? Ông nói. Có những người Candia và Canea đi ngang qua đây. Candia và Canea đến nhà tôi rồi, thế thì tôi cần gì phải đến đó nữa?”
Ngày hôm nay tôi tiếp tục cái tật ấy của ông tôi trên bờ biển Crete này. Tôi cũng thế, tôi đã tìm được một người khách, dường như tôi cũng bắt gặp hắn ta nhờ ánh đèn lồng. Tôi không để hắn bỏ đi. Hắn làm tôi tốn kém hơn một bữa cơm, nhưng hắn đáng được thế. Mỗi buổi chiều tôi đợi hắn sau giờ làm việc, tôi bắt hắn ngồi đối diện với tôi, chúng tôi cùng ăn. Ðến lúc hắn phải trả nợ, tôi bảo hắn: “Kể đi!” Tôi châm tẩu và lắng nghe. Người khách này đã thám hiểm đất đai và thám hiểm tâm hồn con người thật tài ba. Tôi lắng nghe hắn ta mà không thấy chán.
– Kể đi Zorba, kể đi!
Vừa khi hắn ta mở miệng nói là tất cả thành phố Macedonia phơi bầy ra trước mắt tôi, trải ra trong khoảng chật hẹp giữa tôi và Zorba, với tất cả núi đồi, rừng rú, thác ghềnh, với đoàn quân cách mạng, những người đàn bà lam lũ với công việc và những người đàn ông thô kệch nặng nề. Ngọn núi Athos với hai mươi mốt tu viện, những xưởng đóng tàu, và những tên ăn không ngồi rồi bàn tọa lớn. Zorba lúc lắc cái cổ áo vừa chấm dứt câu chuyện về các thầy tu vừa phá lên cười: “Cầu trời cho ông chủ đừng gặp đít la và đầu thầy tu!”
Mỗi buổi chiều, Zorba đưa tôi đi dạo qua các xứ Hy Lạp, Bảo Gia Lợi và Constantinople. Tôi nhắm mắt lại và thấy các nơi đó. Hắn ta đã đi qua vùng Balkans rối loạn và quan sát tất cả mọi sự với đôi mắt nhỏ của con chim ưng, luôn luôn mở rộng vì kinh ngạc. Những sự vật quen thuộc với chúng ta và chúng ta đi qua một cách thản nhiên, những sự vật ấy lại đập vào mắt Zorba như những điều bí ẩn kinh khủng. Thoáng thấy một người đàn bà đi ngang qua, hắn ta sửng sốt dừng lại:
– Bí ẩn gì đây? Hắn hỏi. Một người đàn bà là gì? Tại sao mụ ta lại khiến đầu óc chúng ta đảo điên? Người ấy còn là gì nữa chớ, hãy nói hộ tôi một tí!
Hắn cũng tự hỏi với sự kinh ngạc như thế trước một gã đàn ông, một cây đơm hoa, một ly nước lạnh. Mỗi ngày Zorba nhìn tất cả mọi sự như nhìn thấy lần thứ nhất.
Hôm qua chúng tôi ngồi trước lều. Vừa nốc xong một ly rượu nho, hắn ta quay về phía tôi, la hoảng:
– Ông chủ ơi, thứ nước đỏ kia là gì thế, ông nói cho tôi biết với. Một cội cây già cỗi đâm nhánh non, có những trái nhỏ chua chua treo lủng lẳng, và thời gian qua, nắng làm trái chín, trái trở nên ngọt như mật và lúc đó người ta gọi chúng là những trái nho; ta đem ép nho, rồi vắt lấy nước ngọt chứa trong thùng. Tự nó nước ngọt ấy lên men, người ta bốc thùng ra vào dịp lễ Thánh George – Tửu Ðồ, thế là người ta có rượu nho. Thật kỳ diệu! Ông uống chất nước nho đỏ này và tự nhiên tâm hồn ông lẫm liệt, lẫm liệt quá nó không còn chịu ở trong thân thể già nua nữa, và nó thách đố Thượng Ðế chiến đấu với nó. Cái đó là cái gì ông chủ, ông chủ hãy nói đi!









































































































