BS Ðặng Trần Hào
Theo y lý Ðông phương, chữa bệnh phụ nữ cần phải hỏi kinh nguyệt trước tiên. Nội Kinh chép: “Ba mạch xung, nhâm và đốc cùng một nguồn gốc mà chia thành ba ngã.”
Hải Thượng Lãn Ông giải thích câu này như sau: “Mạch xung là bể của máu, các kinh tụ hội ở đó, nữ giới thì có tích mà hay đầy, vì huyết là âm, nữ giới theo huyết đầy thịnh, nên âm huyết mỗi tháng một lần thấy kinh.”
“Mạch nhâm đảm nhiệm vụ âm huyết của toàn thân.”
“Mạch đốc có nghĩa là quản đốc, chỉ huy. Mạch đốc cùng các kinh xung, nhâm, thủ thái dương, thủ thiếu âm, trên thì tạo ra sữa, dưới thì là kinh nguyệt.”
Tóm lại kinh nguyệt rất quan trọng. Nói tới mất kinh là phải liên tưởng tới huyết và khí trong cơ thể người phụ nữ, sự có kinh nguyệt điều hòa là biểu hiệu sức khỏe bình thường.
Mất kinh là báo hiệu sự mất bình thường, theo y khoa Ðông phương do những nguyên nhân sau đây gây ra: Máu và khí suy; khí bị nghẹt làm máu đọng lại; gan và thận âm suy.
Mất kinh do máu và khí suy
Máu và khí suy thường hành kinh trước thời kỳ và từ từ mất hẳn, có huyết trắng, mùi khó chịu, mặt hốc hác, mệt mỏi, mất tinh thần, tứ chi không còn cứng cáp, chóng mặt và hồi hộp.
Tùy theo trường hợp suy nhiều hay ít, người thầy thuốc Ðông y có thể cho thuốc để điều hòa kinh nguyệt trở lại.
Chủ trị: Bổ khí huyết, thanh huyết, an tâm
Bài thuốc
Sinh địa 12 grs
Xuyên khung 9 grs
Phục thần 9 grs
Ðương qui 9 grs
Sơn thù du 9 grs
Trạch tả 9 grs
Sài hồ 6 grs
Nhân trần 9 grs
Ngải diệp 9 grs
Nhân sâm 9 grs
Quế bì 9 grs
Nhục thung dung 9 grs
Hà thủ ô 9 grs
Xa tiền tử 9 grs
Toan táo nhân 9 grs
Viễn chí 9 grs
Hồng hoa 12 grs
Ðào nhân 9 grs
Ðại táo 3 trái
– Sinh địa, đương qui, xuyên khung, hà thủ ô, ngải diệp, mẫu đơn bì: Bổ huyết, thanh huyết.
– Toan táo nhân, viễn chí: An tâm.
– Sơn thù du, sài hồ, nhân trần, ngải diệp: Ðiều hòa kinh nguyệt.
– Trạch tả: Lợi tiểu, thông tiểu.
– Hồng hoa, đào nhân: Hoạt huyết, phá ứ.
– Nhục thung dung, nhân sâm, quế bì: Bổ khí
– Ðại táo: Bổ huyết và phối hợp các vị thuốc.
Mất kinh do thận và gan âm suy
Thường từ từ mất hẳn kinh, sụt ký, cảm thấy nóng sốt về chiều, bón, phừng mặt để lâu gây nám mặt, dưới mắt quầng đen, miệng và lưỡi khô, khát nước, nhưng không uống nhiều. Nếu giả nhiệt nhiều thì bị lở miệng, lở lưỡi làm ăn uống trở ngại; đau miệng, thắt lưng đau, chân yếu bất lực, chóng mặt, váng đầu, ù tai, mắt khô và mờ nhất vào buổi chiều, ăn lúc ngon lúc không, mệt mỏi, đau nhức mình và chân tay, đàn bà có thể lạnh cảm và ra mồ hôi đêm. Lưỡi đỏ, ít rêu lưỡi và khô. Mạch vi và sác.
Bài thuốc
Sơn thù du 9 grs
Trạch tả 9 grs
Hoài sơn 9 grs
Mẫu đơn bì 9 grs
Thục địa 12 grs
Phục linh 9 grs
Sài hồ 9 grs
Hồng hoa 9 grs
Ðào nhân 9 grs
Ngải diệp 9 grs
Hương phụ 9 grs
Ðương qui 9 grs
Ðại táo 3 trái
Nhiệm vụ của các vị thuốc:
– Thục địa, đương qui: Bổ thận và gia tăng lượng huyết, giảm đau.
– Sơn thù du: Ôn gan và giúp tăng cường sức mạnh cho thận.
– Mẫu đơn bì: Thanh nhiệt và giảm huyết nóng.
– Sơn dược: Bổ tỳ và tăng cường thận.
– Phục linh: Thông tiểu tiện, giảm sưng, giảm thấp nhiệt trong tỳ.
– Trạch tả: Lợi tiểu, giảm ù tai, mắt bớt khô và mờ
– Sài hồ, hương phụ, ngải diệp: Sơ gan, điều gan.
– Hồng hoa, đào nhân: Thông huyết, phá huyết ứ.
– Ðại táo: Bổ máu và phối hợp các vị thuốc.
Như ta đã biết thận âm và gan âm suy làm miệng và lưỡi khô và đắng, ngủ không ngon giấc, đi tiểu đêm nhiều lần. Có thể đưa tới bệnh tiểu đường loại II, và có thể gây ra mỡ và cholesterol trong máu, vì gan không còn khả năng thanh lọc bình thường.
Mất kinh do khí nghẹt gây máu đọng lại
Mất kinh này liên quan tới lo âu lâu ngày, tắc kinh bất thường, tức ngực và hai bên sườn, mặt hốc hác, nhức đầu. Lưỡi đen hay đỏ tía. Mạch huyền.
Phép trị: hoạt huyết, tiêu ứ.
Bài Huyết Phụ Trục Ứ Thang
Ðương qui 9 grs
Xuyên khung 9grs
Ðào nhân 9 grs
Hồng hoa 12 grs
Ngưu tất 9 grs
Chỉ xác 9 grs
Hương phụ 9 grs
Sài hồ 9 grs
Ích mẫu 9 grs
Cam thảo 3 grs.
– Ðương qui, xuyên khung: Bổ huyết.
– Ðào nhân, hồng hoa, ngưu tất, ích mẫu: Phá ứ, thông huyết.
– Sài hồ: Ðiều huyết.
– Chỉ xác, hương phụ: Ðiều khí.
– Cam thảo phối hợp các vị thuốc.
Hành kinh điều hòa rất quan trọng cho phụ nữ, giúp sức khỏe sung mãn, da dẻ hồng hào, tinh thần phấn chấn và minh mẫn để phục vụ gia đình và xã hội.
Nếu mất kinh quí phụ nữ phải tìm các chữa trị để ngăn ngừa những trường hợp bất ổn trong đời sống cả về tinh thần lẫn thể xác.





















































































